- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn T cùng Đp phạm tội " Cố ý gây thương tích" & "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi ĐA, Phạm Thái Hg.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 173/2022/HS-PT Ngày: 12-4-2022 | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 4 năm 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2020/TLPT-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021; Theo Quyết định xét xử phúc thẩm số 531/2021/QĐXX-HSPT ngày 02/12/2021
Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số
81/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trịnh Văn T, sinh năm 1985 tại Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú: Thôn Tân Nam, xã MĐ, huyện AL, thành phố HP; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Trịnh Văn Ch (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1957; Vợ: Cao Thị Hồng N, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: năm 2012, bị Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Giết người. Ngày 31/8/2015 được đặc xá về lại địa phương.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Đỗ Văn T1, sinh năm 1985 tại Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú: Tổ ĐT 5, phường P L, quận KA, thành phố HP; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Đỗ Văn D, sinh năm 1965; Mẹ: Bùi Thị T, sinh năm 1965; Vợ: Dương Thị Kim T, sinh năm 1990; có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- Năm 2010 Công an phường ND, Tp. MC, tỉnh QN xử phạt hành chính 7.500.000 đồng về hành vi Mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí thể thao.
- Năm 2013 TAND tỉnh LS xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Đến ngày 15/5/2015 chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
3. Bùi ĐA, sinh năm 1996 tại HPh; Hộ khẩu thường trú: Tổ 6, phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Bùi Đức Sáu (chết); Mẹ: Tô Hồng Anh, sinh năm 1976; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ Linh, sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
4. Phạm Th Hg, sinh năm 1985 tại HPh; Hộ khẩu thường trú: Tổ GCg 1, phường PhL, quận KA, thành phố HPh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Phạm Đình Đ, sinh năm 1961; Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Có 01 con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 16/9/2019, Nguyễn Thế V gọi điện cho Nguyễn Văn Kh hẹn tới quán Lẩu Cua số 55 LHPh, phường 7, thành phố Vũng Tàu do V làm chủ để nói chuyện về việc thanh toán tiền Kh nợ V. Sau khi hẹn Kh, V đã nhờ Quách ThTh đến gặp Kh để cùng V nói chuyện, yêu cầu Kh trả nợ. Khi đi, Th rủ Hồ Văn Th, Th đồng ý và rủ thêm Nguyễn Văn H, Nguyễn Chí H, Nguyễn Hoàng N, Hoàng Khắc S, Nguyễn Minh Th, Lê Phi Trà N, Nguyễn Văn L, Đặng Việt Hg, Q (hiện chưa xác định rõ lai lịch). Khi đi, H mang theo 02 (hai) con dao Thái Lan, 01 (một) cây gậy sắt, Quắn cầm theo một chiếc giỏ đệm bên trong có một số cây dao (dạng đao, mã tấu…), kiếm, gậy sắt đến quán.
Nguyễn Văn Kh sợ đi một mình đến quán gặp V sẽ bị đánh nên Kh đã gọi điện thoại nhờ Ninh Văn Tg đi cùng đến gặp V để xin khất nợ. Tùng đồng ý và gọi điện rủ Phạm Thái Hg , Đỗ Việt Cg, Phạm Trung K, Đồng Văn D, Phùng Văn V, Nguyễn Tiến Dg, Trần Văn Đ, Bùi ĐA, Phạm Bá Dg, Đỗ Văn T1, Trịnh Văn T và một số đối tượng khác (hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch). Trước khi đi, Cg lấy một chiếc túi da, bên trong có một khẩu súng (loại súng quân dụng) và đưa cho Phạm Bá D cất giữ. Cả nhóm mang một bó ống tuýp sắt, đi trên 03 xe ô tô từ phường PhM, thị xã PhM đến bùng binh cầu Cửa Lấp, thành phố VT thì được Tg đón và dẫn đường đến quán của V.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, do không thống nhất được việc thanh toán tiền nợ giữa V và Kh nên Hồ Văn Thg và Ninh Văn Tg đã chửi nhau, xô xát qua lại dẫn đến đánh nhau. Nhóm của Thg gồm Hồ Văn Thg, Quách Thanh Th, Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Văn Hg, Nguyễn Chí H, Nguyễn Văn Lg, Lê Phi Tr N, Hoàng Khắc S, Phạm Minh Thh, Qn dùng dao Thái Lan, kiếm, đao, gậy sắt, gạch ống, võ chai bia, kéo, tuavít, gậy gỗ làm hung khí còn nhóm của Tùng gồm Ninh Văn Tg, Đỗ Việt Cg, Phạm Bá Dg, Phùng Văn V, Phạm Trung K, Đồng Văn D, Nguyễn Tiến D, Phạm Thái Hg, Bùi ĐA, Đỗ Văn T1, Trịnh Văn T dùng ống tuýp sắt mang theo để đánh nhau. Trong lúc đánh nhau, Phạm Bá Dg dùng cây súng mang theo chĩa về phía nhóm Thg để đe dọa, do không có sẵn hung khí nên Đỗ Việt Cg đã giật khẩu súng trên tay Dg và bắn 06 phát về nhóm Thg gây thương tích cho 04 người với tỷ lệ thương tật gồm: Hoàng Khắc S: 02%, Cao Chí L: 01%, Hồ Văn Thg: 11%, Phạm Minh Th: 08%. Đỗ Việt Cường bị Nguyễn Hoàng N dùng dao ThL đâm trúng một nhát trúng vào lưng gây thương tích với tỷ lệ 01%; Trần T Đ bị 01 người (hiện chưa xác định được) dùng dao chém trúng tay trái.
Sau khi gây án, Phạm Thái Hg, Bùi ĐA, Đỗ Văn T1, Trịnh Văn T đã bỏ trốn, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ra Quyết định truy nã, đến ngày 18/8/2020 ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (bút lục số 81 – 122).
Đối với Đỗ Việt Cg, Phạm Bá Dg, Ninh Văn Tg, Phùng Văn V, Phạm Trung K, Đồng Văn D, Hồ Văn Thg, Quách Thanh Th, Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Văn Hg, Nguyễn Chí H, Nguyễn Văn L, Lê Phi Trà Nn, Hoàng Khắc S, Phạm Minh Th, Trần Văn Đ, Đặng Việt Hg và Nguyễn Tiến Dg đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đưa ra xét xử về các tội “Giết người, Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304 và điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, đồng thời tuyên xử về vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS-P2 ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu truy tố các bị cáo Trịnh Văn T, Đỗ Văn T1, Bùi ĐA, Phạm Thái Hg về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2020/HSST ngày 15/12/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn T, Đỗ Văn T1, Bùi ĐA và Phạm Thái Hg phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Trịnh Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt Đỗ Văn T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt Bùi ĐA 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án
Xử phạt Phạm Thái Hg 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo T, T1, A, Hg vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, mức án phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Văn T1 có cung cấp chứng cứ mới, tuy nhiên mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo T1 là tương xứng, đề nghị bác kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên vụ án được thụ lý phúc thẩm và được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định:
Vào ngày 16/9/2019, Phạm Thái Hg, Bùi ĐA, Đỗ Văn T1, Trịnh Văn T đã đi cùng Ninh Văn T và đồng bọn đến quán Lẩu Cua số 55 Lê Hồng Phong, Phường 7, thành phố Vũng Tàu để giúp Nguyễn Văn Kh xin Nguyễn Thế V khất nợ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, do không thống nhất được việc thanh toán tiền nợ giữa Vũ và Khánh nên Hồ Văn Thưng và Ninh Văn Tùng đã chửi nhau, xô xát qua lại dẫn đến đánh nhau. Nhóm của Thưng dùng dao Thái Lan, kiếm, đao, gậy sắt, gạch ống, võ chai bia, kéo, tuavít, gậy gỗ làm hung khí đánh nhau, còn nhóm của Tùng trong đó có H, T1, ĐA, T dùng ống tuýp sắt mang theo để đánh nhau trên đường phố, gây náo loạn khu dân cư, ảnh hưởng xấu đến an ninh trât tự. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Tòa án cấp sơ thẩm quy kết: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, nên cần xử lý nghiêm khắc. Các bị cáo cùng nhau tiếp nhận ý chí và đều trực tiếp thực hiện tội phạm, nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, mang tính chất bột phát. Các bị cáo đều là người thực hành tích cực, trực tiếp thực hiện tội phạm, xét về vai trò thì các bị cáo đều có vai trò ngang nhau là phù hợp.
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
Bị cáo Bùi ĐA kháng cáo cho rằng gia đình được tặng bằng khen tham gia chống mỹ cứu nước, bản thân từng thực hiện nghĩa vụ quân sự và hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh ngoài lời trình bày. Bị cáo còn nêu hoàn cảnh gia đình khó khăn đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt 2 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo Phạm Thái Hg kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho rằng gia đình bị cáo có công với cách mạng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tình tiết hoàn cảnh gia đình khó khăn cũng đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt 2 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo Trịnh Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo là con thương binh, cha của bị cáo là anh hùng chống thực dân Mỹ, bản thân bị cáo bị ảnh hưởng của chất độc da cam nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh ngoài lời trình bày, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đối với bị cáo Đỗ Văn T1 có nộp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Cha là Đỗ Văn L được Nhà nước tặng thưởng huân chương hạng nhì vì có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cướu nước ngày 09/11/199. Quyết định số 575/KT/CTN ngày 09/11/1998. Bản thân bị cáo tham gia quân ngũ 02 năm, đạt danh hiệu chiến sĩ tiên tiến năm 2005. Trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo đã giúp công an địa phương cư trú xóa, phá thành công vụ án trộm cắp tài sản được Công an phường Phù Liễn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u Khoản 1, Khoản 2 Bộ luật hình sự, đồng thời cũng xem xét hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn Hưng, Hoàng Khắc Sơn trong cùng vụ việc đã được xét xử tại bản án Hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS –ST ngày 18/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và bản án hình sự phúc thẩm số 796/2020/HS – PT ngày 18/12/2020 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nên chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trịnh Văn Tiến, Bùi Đức An, Phạm Thái Hoàng phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 đối với các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi ĐA, Phạm Thái Hg;
Áp dụng điểm b Khoản 1, điểm c Khoản 1 Điều 357 đối với bị cáo Đỗ Văn T1.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi ĐA, Phạm Thái Hg.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn T sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với Đỗ Văn T1.
1. Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn T, Đỗ Văn T1, Bùi A và Phạm Thái Hg phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1.1 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Trịnh Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt Bùi ĐA 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án
Xử phạt Phạm Thái Hg 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
1.2 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Đỗ Văn T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi ĐA, Phạm Thái Hg mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Bi cáo Đỗ Văn T1 không phải chịu.
3. Các phần khác của bản án hình sự không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐKT I) (1); - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND tỉnh BR-VT (1); - TAND tỉnh BR-VT (2); - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT (1); - Công an tỉnh BR-VT (1); - Cục THADS tỉnh BR-VT - Trại tạm giam tỉnh BR-VT (1); - Bị cáo kháng cáo (1); - Lưu hồ sơ (2); - Lưu LT, HCTP (5),(ĐHV). CÁC THẨM PHÁN Hoàng Thanh Dũng Phan Tô Ngọc | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Trí Tuấn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn |