- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Anh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Vi Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 173/2021/HSST Ngày: 28/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mùa Thị Hà và bà Lò Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà:Ông Phạm Văn Năng- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 173/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Anh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/01/1990, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú và chỗ ở trước ngày bị bắt: Tổ dân phố 21, phường H, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Vi Quốc H (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị M; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2021 sau đó áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thanh N - sinh năm 1992; Địa chỉ Bản Him Lam 1, phường H, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đượctóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 12/6/2021, Công an thành phố Điện Biên Phủ, làm nhiệm vụ phát hiện Vi Anh T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 27N1 - 028.88 đi trên đường dân sinh theo hướng từ cổng chào tổ dân phố 21, phương Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ đến khu tập thể xăng dầu Điện Biên, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác áp sát, yêu cầu kiểm tra thì T thả từ lòng bàn tay trái xuống đường, cách chân trái 10 cm, 54 viên màu hồng, là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 5,1 gam, đựng trong 01 túi nilon màu trắng, quấn ngoài băng dính màu đen để trong 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba. T khai qua sự chỉ dẫn của một người đàn ông tên Sơn, T vừa gặp và mua số ma túy trên của người thanh niên không quen biết, với giá 30.000 đồng/1 viên, cạnh cây rút tiền ngân hàng Agribank, thuộc tổ 01, phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, mục đích để bản thân sử dụng. T mới trả trước 500.000 đồng, xin nợ số còn lại, mua được ma túy T cầm trong lòng bàn tay trái trên đường mang về thì bị phát hiện bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số 666/GĐ-PC09 ngày 20/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 5,1 gam. Vật chứng còn lại sau khi giám định là 0,49 gam Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSTPĐBP ngày 12/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Vi Anh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vi Anh T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Vi Anh T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: 0,49 gam Methamphetamine (vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ; 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba; 01 túi nilon màu trắng trong suốt được quấn ngoài bằng băng dính màu đen. Trả lại bị cáo 01 điện thoại ABuTuS màu vàng kèm 01 sim.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo bị truy tố:
Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 12/6/2021, tại tổ dân phố 21, phường Him Lam thành phố Điện Biên Phủ, Vi Anh T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 5,1 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 12/6/2021, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 12/6/2021. Tại bản kết luận giám định số: 666/GĐ-PC09 ngày 20/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy loại Methampetamine, khối lượng là 5,1 gam.Vật chứng còn lại sau giám định là 0,49 gam Methamphetamine.
Hành vi Tàng trữ số lượng chất ma túy trên của bị cáo và bị cáo phạm tội trong trường hợp bản án trước chưa được xóa án tích. Vì vậy bị cáo đã phạm vào điểm g, o khoản 2 Điều 249/BLHS.
Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
...g) ...Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dước 30 gam;...
o) Tái phạm nguy hiểm"...
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội,nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua phÇn xét hỏi vµ tranh luËn t¹i phiªn toµ thÓ hiÖn nguyªn nh©n dÉn ®Õn viÖc bị cáo ph¹m téi lµ do thiÕu ý thøc rÌn luyÖn b¶n th©n, tu d ìng phÈm chÊt ®¹o ®øc vµ thiÕu ý thøc trong viÖc chÊp hµnh c¸c quy ®Þnh cña ph¸p luËt, nhËn thøc ® îc viÖc lµm cña m×nh lµ vi ph¹m ph¸p luËt h×nh sù nh ng ®Ó phôc vô nhu cÇu của b¶n th©n bÞ c¸o ®· lao vào con đường phạm tội.
Ngày 23/7/2013, bị cáo T bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo T 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tịch thu 300.000 đồng và T phải chịu 200.000 đồng án phí. Ngày 20/01/2019 T chấp hành xong toàn bộ bản án. Ngày 12/6/2021, bị cáo phạm tội mới trong thời gian chưa được xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình và bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51/BLHS. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo là những người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi mua bán và cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận Vi Anh T đôi với tội "Tàng trái phép chất ma túy".
Từ những phân tích trên khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng và các vấn đề khác:
Khối lượng 0,49 gam Methamphetamine (vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ; 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba; 01 túi nilon màu trắng trong suốt được quấn ngoài bằng băng dính màu đen cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại di động ABuTuS màu vàng kèm 01 sim T khai đã dùng vào việc liên lạc để mua ma túy nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được. Nên HĐXX trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên.
Đối với chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 27N1 - 028.88 kèm 01 chìa khóa của chị Nguyễn Thanh Nhàn cho bị cáo mượn nhưng chị Nhàn không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Nhàn. HĐXX xét thấy việc xử lý của cơ quan Công an là đúng theo quy định pháp luật. Do vậy tại phiên tòa không đặt vấn đề giải quyết.
T khai mua ma túy của người thanh niên qua môi giới của người đàn ông tên Sơn, nhưng T không biết địa chỉ cụ thể của người đó. Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Vi Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Anh T 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (12/6/2021). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
3.Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,49 gam Methamphetamine (vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ; 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba; 01 túi nilon màu trắng trong suốt được quấn ngoài bằng băng dính màu đen; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động ABuTuS màu vàng kèm 01 sim (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2021 giữa Công an thành phố Điện Biên Phủ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNV liên quan; - VKSND TPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra Công an TPĐBP; - Cơ quan THAHS TP ĐBP; - Nhà tạm giữ CA TPĐBP; - Trại giam; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Chi cục THADS TPĐBP; - TAND tØnh §B; - HS Thi hµnh ¸n HS; - L u hå s¬ vô ¸n; - L u VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Tám |