vanban.org

Bản án 173/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT:

Buộc ông Nguyễn Như H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT số tiền 132.787.979 (một trăm ba mươi hai triệu bảy trăm tám mươi bảy ngàn chín trăm bảy mươi chín) đồng, bao gồm: nợ gốc: 27.422.874 (hai mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bốn) đồng; nợ lãi tạm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2021/DS-ST
Ngày: 28-10-2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàng Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bình.

2. Bà Phạm Thị Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2020 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2021/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT; Địa chỉ trụ sở: 266 - 268 NKKN, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991 (theo Giấy ủy quyền số 665/2020/UQ-TTT ngày 07/5/2020 (ông M có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Như H, sinh năm 1963, địa chỉ: 137 Đường C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (ông H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/8/2008, Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có ký với ông Nguyễn Như Hạnh Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ANZ với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 52.826.000 đồng, đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 65.950.000 đồng. Sau đó, ông H ngừng thanh toán theo thỏa thuận mặc dù Ngân hàng nhiều lần làm việc, nhắc nhở nên ngày 01/4/2010 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H thanh toán ngay các khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 28/10/2021 tổng cộng là 132.787.979 đồng, bao gồm: nợ gốc 27.422.874 đồng, lãi quá hạn 105.365.105 đồng; ngoài ra, ông H còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/10/2021 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn, ông Nguyễn Như H vắng mặt suốt quá trình tố tụng của Tòa án nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại Điều 177 và 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn - ông Nguyễn Như H. Ông H có địa chỉ tại 137 Cống Lở, Phường 15, quận Tân Bình nhưng hiện không thực tế cư trú tại địa phương, không rõ đi đâu. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

Bị đơn - ông Nguyễn Như H mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT, buộc ông Nguyễn Như H thanh toán số tiền nợ 132.787.979 đồng, gồm: nợ gốc 27.422.874 đồng, lãi quá hạn 105.365.105 đồng; ngoài ra ông H còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/10/2021 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ANZ, xác nhận của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì có đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT có cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Như H với hạn mức tín dụng 50.000.000 đồng. ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 52.826.000 đồng, đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 65.950.000 đồng. Sau đó, ông H ngừng thanh toán theo thỏa thuận mặc dù Ngân hàng nhiều lần làm việc, nhắc nhở nên ngày 01/4/2010 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 28/10/2021, ông H còn nợ Ngân hàng số tiền 132.787.979 đồng, gồm: nợ gốc 27.422.874 đồng, lãi quá hạn 105.365.105 đồng. Xét thấy, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận đã ký kết nên việc Ngân hàng yêu cầu ông H trả ngay một lần toàn bộ số tiền trên và yêu cầu ông H còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/10/2021 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT là có căn cứ chấp nhận.

Xét ý kiến bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được niêm yết hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do chính đáng, điều này cho thấy bị đơn tự từ chối quyền được trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm là 6.639.398 đồng do ông Nguyễn Như H phải chịu. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.842.800 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT:

Buộc ông Nguyễn Như H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT số tiền 132.787.979 (một trăm ba mươi hai triệu bảy trăm tám mươi bảy ngàn chín trăm bảy mươi chín) đồng, bao gồm: nợ gốc: 27.422.874 (hai mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bốn) đồng; nợ lãi tạm tính đến ngày 28/10/2021 là 105.365.105 (một trăm lẻ năm triệu ba trăm sáu mươi lăm ngàn một trăm lẻ năm) đồng.

Kể từ ngày 29/10/2021 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Như H còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 19/8/2008, bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ANZ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT.

Phương thức và thời hạn trả: Trả một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 6.639.398 (sáu triệu sáu trăm ba mươi chín ngàn ba trăm chín mươi tám) đồng do ông Nguyễn Như H phải chịu.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.842.800 (hai triệu tám trăm bốn mươi hai ngàn tám trăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0039654 ngày 23/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân TP.HCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Q.Tân Bình;

- Chi cục THADS Q.Tân Bình;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ.

Trương Thị Hoàng Mai

Cỡ chữ