vanban.org

Bản án 173/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Nguyễn Công M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN CÔNG MINH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2019/HS-PT
Ngày: 26/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhiên

Ông Nguyễn Gia Lương

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông H Tùng- Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 26/11/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 259/2019/TLPT-HS ngày 04/11/2019 đối với bị cáo Nguyễn Công M do có kháng cáo của bị cáo và đối với bản án hình sự sơ thẩm số 41/2019/HSST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Công M, tên gọi khác: Không có; sinh năm 2000; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Công H, sinh năm 1977 và bà: Đàm Thị N, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 29/6/2019, tạm giam từ ngày 02/7/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 29/6/2019, tại nhà nghỉ H thuộc thôn H, xã P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã P tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Công M, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quá trình kiểm tra phát hiện trong bàn tay trái của M đang cầm 02 (hai) túi nilon đều có màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu xanh, bên trong 01(một) túi đựng tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) và một túi đựng 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, một mặt của viên nén có chữ “WY” (nghi là chất ma túy). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Công M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, niêm phong số vật chứng nghi là chất ma túy trong phong bì thư có ký hiệu “QT”. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của M: 01 điện thoại di động kiểu Iphone màu ghi có ốp màu đen kèm theo 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu Iphon màu vàng- trắng, mặt kính phía trước bị rạn vỡ kèm theo 01 sim; 06 (sáu) ống hút bằng nhựa (trong đó có 03 ống hút màu xanh lam, 01 ống hút màu xanh lục, 01 ống hút màu vàng, 01 ống hút màu hồng), được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT1”. Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải: 01 (một) bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 11 (mười một) điếu, 01 (một) bật lửa ga màu trắng, 01 (một) cuộn giấy bạc (không bám dính chất gì), được niêm phong trong phong bì có kí hiệu “ QT2”; Thu giữ trong cạp quần trước của M 01(một) con dao có chiều dài 24 cm, lưỡi dao bằng kim loại, một đầu nhọn, chiều dài lưỡi dao 13,5cm, kim loại màu trắng, chuôi dao màu đen; Tạm giữ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98F6-1989, xe đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu

Ngày 30/6/2019, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét tại phòng số 7 nhà nghỉ Pở phố B, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là nơi ở của M trước khi đến nhà nghỉ H. Kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 1074/KL-KTHS ngày 01/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,358 gam. 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,098 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Công M khai nhận: M có làm thuê tại nhà nghỉ Pthuộc phố B, thị trấn C, huyện Y; Khoảng 20 giờ ngày 29/6/2019, M hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 98F6-1989 của anh Đoàn Ngọc N, sinh năm 1980 là chủ nhà nghỉ thì anh N đồng ý. Sau đó, M đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực bản Núi Bà, xã T, huyện Y thì M gặp Mã Anh H, sinh năm 1992 ở bản N, xã T, huyện Y đang ngồi trên xe mô tô một mình ở khu vực ven đường. M hỏi mua ma túy của H thì H đồng ý. M đưa số tiền 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng) cho H và nói “ để cho cháu 3-1”, ý của M là bảo H bán cho 300.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa. M hỏi xin H giấy bạc để sử dụng ma túy. H cầm tiền bảo M đứng chờ. Sau khoảng 05 phút, H quay lại đưa cho M 02 (hai) túi ma túy và 01 cuộn giấy bạc. M đã cất giấu số ma túy cùng giấy bạc vào trong túi quần bên phải rồi đi về nhà nghỉ P. Sau đó, M điều khiển xe mô tô mượn của anh N đi khỏi nhà nghỉ P. Đi được khoảng 200m thì M lấy 02 (hai) túi ma túy ở trong túi ra và cầm ở tay trái rồi đi đến nhà nghỉ H với mục đích để sử dụng ma túy. Tại nhà nghỉ H thì M bị Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, M khai: Tối ngày 24/6/2019, M đã sử dụng ma túy một mình tại phòng trọ ở nhà nghỉ P. Ngày 29/6/2019, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với M, kết quả dương tính. Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Công M ngày 24/6/2019, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Tại cơ quan điều tra bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại cáo Trạng số: 41/CT-VKS-YT, ngày 03/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Nguyễn Công M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 41/2019/HSST ngày 24/9/2019 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Công M 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29-6-2019.

Ngoài ra bản án còn tuyên giải quyết vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo, các quyền và N vụ khác.

Ngày 25/9/2019, bị cáo Nguyễn Công M làm đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Công M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công M.

Bị cáo Nguyễn Công M không có tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Công M: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công M nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa thấy đủ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 29/6/2019 Nguyễn Công M có mượn xe mô tô BKS 98F6-1989 của anh Đàm Ngọc N, ở phố B, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, mục đích đi mua ma túy về sử dụng, M điều khiển xe đến khu vực Núi Bà, xã T, huyện Y, M khai mua của anh Mã Anh H 400.000đ tiền ma túy, anh H có đưa cho M 2 túi nilon đều có màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu xanh, bên trong 1 túi đựng tinh thể màu màu trắng và 01 túi bên trong đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên mặt viên nén có chữ “WY” , M đem số ma túy về nhà nghỉ H, thuộc thôn H, xã P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, khi M vừa về đến nhà nghỉ chưa kịp thuê phòng nghỉ thì bị tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ tang vật như trên.

Tại Kết luận giám định số:1074/KL-KTHS ngày 01/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,358 gam. 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,098 gam.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Công M thừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm nêu là đúng, không oan. Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2019/HS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Nguyễn Công M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Công M thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguồn gốc phát sinh của nhiều tội phạm, có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, kinh tế, hạnh phúc của con người. Sử dụng trái phép chất ma túy có thể dẫn đến chết người, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS.

Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân dân bị cáo đã xử phạt bị cáo M 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và không nặng đối với bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với cấp sơ thẩm nên HĐXX xét thấy cần không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Do bị cáo Nguyễn Công M không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Công M 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29-6-2019.

[2] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Công M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ