vanban.org

Bản án 173/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn An P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn An P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tạm giữ chiếc xe đạp cũ của bị cáo để bảo đảm thi hành án (theo biên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen An P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn An P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2017/HSST
Ngày 07 - 11 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hà Thị Nga

2. Bà Phạm Thị Bích Ngọc

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Trần Phương Thảo - Cán bộ Toà án nhân dân quận Lê Chân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2017/HSST ngày 03/10/2017 đối với:

Bị cáo Nguyễn An P sinh năm 196X tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 5/280A T.N.H, phường N.N, Quận L.C, thành phố H.P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; con ông Nguyễn Đình H (đã chết) và bà Vũ Thị L; chưa có vợ con; tiền sự: Không, có 01 tiền án: Bản án số 87/2004/HSST ngày 04/5/2004 của TAND Quận Lê Chân xử phạt Nguyễn An Phòng 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành tù tính từ ngày 27/01/2004, phạt bổ sung 5.000.000 đồng (chưa được xóa án tích do chưa chấp hành hình phạt bổ sung); bị tạm giữ từ ngày 27/6/2017, đến ngày 28/6/2017 chuyển tạm giam; có mặttại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn An P bị Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 26/6/2017, Công an phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Hải Phòng phát hiện và bắt giữ Nguyễn An P, sinh năm 196X, trú tại: Số 5/280A T.N.H, phường N.N, Quận L.C, thành phố H.P đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 túi nilon màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy tại khu vực trước cửa nhà số 348 H.B.T, phường C.D, Quận L.C, H.P. Ngoài ra còn thu giữ của P 01 chiếc xe đạp mini đã cũ. Sau đó, P cùng vật chứng được đưa về trụ sở Công an phường Cát Dài lập biên bản bắt ngưởi có hành vi phạm tội quả tang.

Bản Kết luận giám định số 837/PC54(MT) ngày 29/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Trọng lượng heroin có trong 0,2207 gam chất bột màu trắng thu giữ của P là 0,158 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn An P khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/6/2017, P đi xe đạp từ nhà đến khu vực đầu ngõ Đ.K.N hỏi mua heroin của 01 nam giới khoảng 30 tuổi, P đưa cho người này 100.000 đồng và nhận số heroin đựng trong 01 túi nilon màu vàng để về sử dụng cho bản thân. P cầm số ma túy vừa mua được ở tay trái đi ra đến khu vực trước cửa số 348 H.B.T thì bị bắt giữ cùng vật chứng.

Tiến hành nhận dạng qua ảnh, P xác định được người bán ma túy là Tăng Quốc T; trú tại: số 2E Đ.K.N, phường C.D, Quận L.C, thành phố H.P. Khám xét nơi ở của T không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án, đồng thời T không nhận đã bán ma túy cho P. Ngoài lời khai của P không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Lê Chân đã tách ra tiếp tục điểu tra có căn cứ xử lý sau.

- Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn An Pvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo Nguyễn An P từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy lượng ma túy trong 01 phong bì niêm phong còn lại sau giám định; tạm giữ chiếc xe đạp mini cũ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng; biên bản phạm pháp quả tang; tang vật đã thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn An P đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,158 gam heroin tinh chất với mục đích sử dụng cho bản thân nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi này bị cáo biết rõ nó nguy hiểm cho xã hội và là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm khác nhưng vẫn thực hiện nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Nhưng cũng xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng do thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối lỗi.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án 30 tháng tù theo bản án số 87/2004/HSST ngày 04/5/2004 của TAND Quận Lê Chân về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành tù tính từ ngày 27/01/2004. Đến nay chưa nộp tiền phạt bổ sung 5.000.000 đồng nên lần phạm tội này bị coi là tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo.

Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13… qui định: “Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử …”. Như vậy hành vi tàng trữ trái phép từ 0,1 gam đến dưới 5 gam heroin theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 qui định mức hình phạt từ 1năm đến 5 năm tù nhẹ hơn qui định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 nên được áp dụng có lợi cho bị cáo.

Xét bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội có một tình tiết tăng nặng và có một tình tiết giảm nhẹ, nên phải xử lý nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giúp bị cáo xa rời ma túy và phòng ngừa chung. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo theo mức cao nhất mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối tượng Tăng Quốc T; trú tại: số 2E Đ.K.N, phường C.D, Quận L.C, thành phố H.P mà P khai đã bán ma túy cho P nhưng kết quả điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Lê Chân đã tách ra tiếp tục điểu tra xử lý sau là đúng qui định của pháp luật

Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc xe đạp cũ của bị cáo cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn An P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn An P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tạm giữ chiếc xe đạp cũ của bị cáo để bảo đảm thi hành án (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/9/2017 giữa Công an Quận Lê Chân và Chi cục THADS Quận Lê Chân).

- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ