- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Quang Vinh - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁNNHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH Bản án số: 172/2026/HS-ST |
Ngày 26 - 6 -2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỌNG HÒA XÃ HỌI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xứ sơ thẩm gồm có:
Thâm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thái và bà Lê Thị Tố Hoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thầm thụ lý số 147/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2026/QĐXX-HS ngày 12 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Quang V, sinh năm 2004; nơi thường trú: Thôn T, xã B, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Thành T, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Cao Thị H, sinh năm 2009; địa chỉ: Thôn G, xã B, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
+ Anh Vi Văn T1, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
+ Anh Lê Doãn H1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn Y, xã X, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Người chúng kiến:
+ Anh Lương Ngọc D, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phổ Q, phường T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
+ Anh Thân Văn H2, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11/2025, V sử dụng ma túy dạng tỉnh dầu bằng cách đổ tinh dầu chứa ma tuý 5F-MDMB-PINACA (thường gọi là tinh dầu mma tuý CBD) vào thuốc lá điện tử rồi hút vào cơ thể. Sau đó, V sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Trần Thị Phương H3” đăng các bài viết quảng cáo bán tinh dầu ma túy trên hội nhóm “CBD Tobaco Bắc Giang-Bắc Ninh".
Ngày 19/12/2025, Lương Quang V sử dụng tài khoản “Thám tử Ce” của V nhắn tin liên hệ với tài khoån “Small Pills” trên mạng xã hội Telegram đặt mua 100ml tinh dầu ma tuý CBD. Người sử dụng tài khoản này đồng ý bán, thông báo giá là 4.500.000 đồng và yêu cầu chuyển tiền trước đến tài khoản số 0898332026 mang tên Vi Văn T1 mở tại Ngân hàng TMCP V1, chuyển tinh dầu chứa ma tuý qua dịch vụ chuyển phát nhanh. V chuyển khoản số tiền 4.500.000 đồng từ tài khoản 2009102009 mở tại M2 đến số tài khoản trên theo yêu cầu của người bán và gửi địa chỉ, số điện thoại của V để liên hệ giao hàng.
Buổi sáng ngày 24/12/2025, một người đàn ông sử dụng tài khoån Messenger "H" gọi qua ứng dụng M đến tài khoản “Trần Thị Phương H3” của V đặt mua 02 lọ tinh dầu chứa ma túy CBD. V đồng ý bán với giá 800.000 đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ giao dịch mua bán ma tuý tại phòng trọ của V ở tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Buổi chiều cùng ngày, V được nhân viên chuyển phát nhanh giao cho một hộp bìa carton. V đem về phòng trọ mở ra kiểm tra thấy bên trong có 01 chai nhựa đựng 100ml tỉnh dầu ma túy CBD. V chiết xuất số tinh dầu chứa ma tuý pha với tinh dầu hoa quả chia vào các lọ nhỏ và cất giấu tại phòng trọ mục đích để bán. Cùng ngày, V được người bán trao đổi về loại tinh dầu chứa ma tuý có chất lượng tốt hơn nên đã đặt mua thêm 100ml tinh dầu chứa ma tuý.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2025 khi Lương Quang V đang ở phòng trọ tại tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh thì người đàn ông sử dụng tài khoản “Hoàng X” gọi cho V qua ứng dụng Messenger hỏi thì V trả lời đã có ma tuý và hẹn đến phòng trọ của V. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông này gọi qua ứng dụng Messenger thông báo đã đến trước cửa phòng trọ. V lấy 02 chai tinh dầu ma túy cho vào hộp giấy màu đen rồi đi ra ngoài cửa nhà thì gặp một người đàn ông không quen biết đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang. Người này đưa trước cho V một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Khi V vừa cầm tiền và đang chờ người đàn ông này trả nốt tiền thì bị Tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phát hiện, lập biên bản bắt quả tang hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Đối với người đàn ông mua ma tuý đã bỏ chạy thoát. Tang vật thu giữ gồm:
- Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lương Quang V: 01 hộp giấy màu đen có chữ “XLimV3” bên trong đựng 02 chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đen, bên trong các chai nhựa đều đựng chất dung dịch màu vàng nghi là ma túy được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu "QT1".
- Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lương Quang V: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng được niêm phong trong phong bì kỷ hiệu “QT2".
- Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Lương Quang V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 352978091604331.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Quang V tại tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh đã thu giữ:
Thu giữ trên mặt bàn kê sát cửa nhà vệ sinh: 03 (ba) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đen, bên trong các chai nhựa có đựng chất dung dịch màu vàng nghi là ma túy được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu "KXI”.
- Thu giữ trong ngăn kéo bàn kê sát cửa nhà vệ sinh: 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong đựng:
+ 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 03 (ba) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đen, bên trong các chai nhựa đều đựng chất dung dịch màu vàng nghi là ma túy.
+ 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 13 chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đen, bên trong các chai nhựa đều đựng chất dung dịch màu vàng nghi là ma túy.
(Toàn bộ số đồ vật nghi là ma tủy nêu trên được niêm phong vào phong bì ký hiệu KX 2).
- Thu giữ dưới nền nhà sát tủ kê đầu giường ngủ của V: 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đen, bên trong đựng chất dung dịch màu vàng nghi là ma túy được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu "KX 3".
- Thu giữ trên mặt bàn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng gold gắn sim số 0349.764.313.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma tuý đã thu giữ khi bắt quả tang và thu khi khám xét nơi ở của Lương Quang V; trưng cầu giám định mẫu nước tiểu của Lương Quang V.
Kết luận giám định số 4089/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
+ Chất dung dịch màu vàng bên trong phong bì thư ký hiệu hiệu “QT1” gửi giám định có thể tích 16ml, có tìm thấy chất ma túy 5F-MDMB-PINACA.
+ Chất dung dịch màu vàng bên trong phong bì thư ký hiệu hiệu “KX1" gửi giám định có thế tích 24ml, có tìm thấy chất ma túy 5F-MDMB-PINAСА.
+ Chất dung dịch màu vàng bên trong phong bì thư ký hiệu hiệu “KX2" gửi giám định có thể tích 128ml, có tìm thấy chất ma túy 5F-MDMB-PINACА.
+ Chất dung dịch màu vàng bên trong phong bì thư ký hiệu hiệu “KX3” gửi giám định có thể tích 1000ml, có tìm thấy chất ma túy 5F-MDMB-PINAСА.
+ Không tiến hành giám định hàm lượng chất mama túy 5F-MDMB-PINACA do Phòng K Công an tỉnh B không có mẫu chuẩn.
+ Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lương Quang V được niêm phong gửi giám định (Bút lục 29-30)
Kết luận giám định số 447/KL-KTHS ngày 28/01/2026 của V2 Bộ C kết luận:
- Hàm lượng (nồng độ) chất ma túy 5F-MDMB-PINACA trung bình trong các mẫu chất lỏng được niêm phong ký hiệu QT1, KX1 và KX2 gửi giám định lần lượt là 4,6mg/mL; 3,5mg/mL và 3,5mg/mL.
- Lượng chất ma túy 5F-MDMB-PINACA trong mẫu chất lỏng được niêm phong ký hiệu KX3 rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng (nồng độ) chất này có trong mẫu gửi giám định.
Tại cơ quan điều tra, Lương Quang V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 28/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Lương Quang V về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xác định việc bị truy tố là đúng người, đúng tội, không oan. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Lương Quang V từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/12/2025). Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của V2 Bộ C.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 352978091604331, không kiểm tra chất lượng tình trạng máy; truy thu đối với bị cáo số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại bị cáo Lương Quang V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng gold, số IMEI: 055836083959146, gắn sim 0349764313, không kiểm tra chất lượng tình trạng máy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lương Quang V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như hình phạt.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử giảm nhę hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điểu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đẩy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.
[3] Xét vềhành vi của bị cáo theo cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố thì thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người chứng kiến tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Lương Quang V thuê trọ tại tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh. V sử dụng tài khoån Facebook mang tên “Trần Thị Phương H3” đăng các bài viết quảng cáo bán tinh dầu chứa ma túy trên hội nhóm “C1 - Bắc Ninh”. V đặt mua của người không quen biết trên mạng xã hội 01 chai tỉnh dầu chứa ma túy 5F-MDMB-PINACA sau đó đem về phòng trọ chiết xuất cho vào các lọ nhỏ mục đích để bán. Ngày 24/12/2025 có một người đàn ông sử dụng tài khoản “Hoàng X” gọi cho V đặt mua 02 lọ tỉnh dầu chứa ma túy. V đồng ý bán với giá 800.000 đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ giao dịch mua bán tỉnh dầu ma tuý tại phòng trọ. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2025, người đàn ông sử dụng tải khoản “Hoàng X” đi đến trước cửa phòng trọ của V để mua ma tuý. V lấy 02 chai tinh dầu ma túy rồi đi ra ngoài cửa nhà để bán. Người đàn ông này đưa cho V một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Khi V đang chờ trả nốt tiền thì bị Tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B bắt quả tang hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng, kết quả giám định 16ml dung dịch lỏng có chất ma túy 5F-MDMB-PINACA, hàm lượng 4,6mg/mL. Khám xét nơi ở của V thu giữ các chai nhựa có 24ml dung dịch lỏng có chất ma túy 5F-MDMB-PINACA, hàm lượng 3,5mg/mL và các chai nhựa có 128ml dung dịch lỏng có chất ma túy 5F-MDMB-PINACA, hàm lượng 3,5mg/mL. Tổng khối lượng chất ma tuý mà V phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,6056 gam ma tuý 5F-MDMB-PINACA mục đích để bán. Hành vi của bị cáo Lương Quang V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ việc tàng trữ, mua bán trái phép trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nhuận nên đã bất chấp pháp luật, mua ma túy về bán nhằm mục đích kiếm lời, cố tình gieo rắt mầm móng tội phạm cho xã hội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Văn L được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và cộng đồng.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời bất chính, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy ngoài hình phạt chính, cần áp dụng khoản 6 Điều 251 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung Ngân sách nhà nước.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 hộp giấy niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của V2 Bộ C. Xét thấy, số vật chứng này liên quan đến việc phạm
C tội và là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với điểm khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật TỐ tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 352978091604331, không kiểm tra chất lượng tình trạng máy; số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng gold, số IMEI: 055836083959146, găn sim 0349764313 là tài sản của bị cáo dùng liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp với khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Đối với những vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ: Lương Quang V khai mua trên mạng xã hội của người sử dụng tài khoản “Small Pills"; thanh toán bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 0898332026 Ngân hàng TMCP V1. Kết quả điều tra xác định được như sau:
- Chủ đăng ký tài khoản 0898332026 Ngân hàng TMCP V1 mang tên Vi Văn T1, sinh năm 1997 ở thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh đăng ký bằng số điện thoại 0898.332.026. Ngày 19/12/2025 tài khoản này có nhận số tiền 4.500.000 từ tài khoản số 2009102009 mang tên Cao Thị H mở tại Ngân hàng TMCP Q chuyển đến. Anh T1 khai không đăng ký và không sử dụng tài khoản ngân hàng này.
- Chủ thuê bao số điện thoại 0898.332.026 mang tên Lê Doãn H1, sinh năm 1986, trú tại thôn Y, xã X, tỉnh Hà Tĩnh. Anh H1 khai không đăng ký, không sử dụng số điện thoại này.
Chủ đăng ký tài khoản 2009102009 mở tại Ngân hàng TMCP Q là Cao Thị H, sinh năm 2009, trú tại thôn G, xã B, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 19/12/2025 có chuyển số tiền 4.500.000 đến số tài khoản 0898332026 của Ngân hàng TMCP V1.
Đối với chị Cao Thị H là người đăng ký mở tài khoản ngân hàng M3 “2009102009”. Quá trình điều tra xác định chị H cho M1 tài khoản nêu trên vào giữa năm 2025 để V sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân, chị H không biết V sử dụng tài khoản này để mua ma tuý nên cocơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị H.
Đối với ông Phùng Văn T2 cho Lương Quang V thuê phòng trọ nhưng đều không biết V mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Lương Quang V phải chịu án phí hình sự sơ thầm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Do bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phủ hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. [10] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYÉT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Quang V 03 (Ba) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/12/2025.
Quyết định tạm giam bị cáo Lương Quang V 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Viền 5.000.000đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám đỉnh của V2 C.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 352978091604331, không kiểm tra chất lượng tình trạng máy;
- Truy thu số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Lương Quang V sung Ngân sách nhà nước.
- Trả lại bị cáo Lương Quang V điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng gold, số IMEI: 055836083959146, gắn sim 0349764313, không kiểm tra tình trạng chất lượng máy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bhòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Bắc Ninh; uỷ nhiệm chỉ ngày 03/6/2026 của Công an tỉnh B vào Kho bạc nhà nước khu vực V3)
3. Án phí: Buộc bị cáo Lương Quang V chịu 200.000đồng án phí hình sự so thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định.
5. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Bắc Ninh; VKSND khu vực 1 – Bắc Ninh; Phòng THADS khu vực 1 – Bắc Ninh; - UBND xã Bố Hạ, tỉnh Bắc Ninh; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu HS, VP. | T/M HỌI ĐỎNG XÉT XỬ SƠ THẢM THẢM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thủy |