vanban.org

Bản án 172/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th.

Về nuôi con chung: Giao anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung là cháu Nguyễn T, sinh ngày 05/11/2013, cháu Nguyễn Thị Tr, sinh ngày 24/4/2015 và cháu Nguyễn Cát Ngọc Nh, sinh ngày 03/01/2020. Chị Nguyễn Thị Th không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ và có quyền, nghĩa vụ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ Đ-Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-7-2024
V/v Ly hôn, nuôi con chung giữa
anh Đ và chị Th”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố số 5, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố số 5, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Anh Đ xin vắng mặt; chị Th vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 3 năm 2024 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th Đ ký kết hôn ngày 11/12/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận cùng bố mẹ đẻ anh Đ ở tổ dân phố số 5 thị trấn Cồn được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Th không chung thủy, có quan hệ bất chính với người khác, anh Đ cùng hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo và tha thứ, cho cơ hội sửa chữa nhưng chị Th không thay đổi. Khoảng tháng 8 năm 2021 chị Th lại có quan hệ với người khác. Ngày 27/12/2021, anh Đ phát hiện chị Th mang thai không phải với anh Đ nên đã đưa đi khám thì thai đã được hơn 4 tháng và chị Th đã phá thai ngay trong lần khám đó. Ngày hôm sau là 28/12/2021 chị Th đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Hải Giang, huyện Hải Hậu sinh sống và vợ chồng ly thân, chấm dứt mọi quan hệ và trách nhiệm với nhau từ đó tới nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai người không thể tiếp tục chung sống nên anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị Th.

Về con chung: Anh Đ và chị Th có 03 con chung là cháu Nguyễn T, sinh ngày 05/11/2013, cháu Nguyễn Thị Tr, sinh ngày 24/4/2015 và cháu Nguyễn Cát Ngọc Nh, sinh ngày 03/01/2020, hiện 03 con chung đang do anh Đ nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh Đ nhận nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Anh Đ trình bày vợ chồng không có tài sản và nghĩa vụ về tài sản chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã thông báo cho chị Th đến nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng chị Th không đến nhận. Thông qua ông Nguyễn Văn Kỳ là bố đẻ chị Th, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu đã tống đạt toàn bộ các văn bản tố tụng theo quy định cho ông Kỳ nhận thay và cam kết giao lại các văn bản tố tụng cho chị Th. Chị Th đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên, đến nay chị Th không đến Tòa làm việc cũng như không nộp, gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và các tài liệu, chứng cứ có liên quan. Tại phiên tòa lần thứ hai chị Th vẫn vắng không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh Đ và chị Th theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và Đ ký kết hôn tại UBND thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ngày 11-12-2012. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị Th là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, hai người sống ly thân từ tháng 12-2021 đến nay. Do không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với chị Th nên anh Đ xin ly hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ đối với chị Nguyễn Thị Th, qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi kết hôn được hơn 01 năm, anh Đ và chị Th đã phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 12-2021 hai người đã sống ly thân nhưng từ đó đến nay cả anh Đ và chị Th đều không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của hai người tiếp tục tồn tại. Mặt khác, chị Th đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng đến nay chị Th không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án, không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án cũng như phiên toà xét xử, đã chứng tỏ chị Th không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh Đ. Anh Đ vẫn giữ ý kiến xin ly hôn chị Th và đề nghị Tòa án không T hành hòa giải. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị Th đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được . Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ, cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị Th là phù hợp.

Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th có 03 con chung là cháu Nguyễn T, sinh ngày 05/11/2013, cháu Nguyễn Thị Tr, sinh ngày 24/4/2015 và cháu Nguyễn Cát Ngọc Nh, sinh ngày 03/01/2020, hiện con chung đang do anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh Đ đề nghị tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con. Đến nay chị Th cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên cần chấp nhận ý kiến của anh Đ; giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Anh Nguyễn Văn Đ ý kiến vợ chồng không có tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, không đề nghị Toà án giải quyết. Chị Th cũng không có ý kiến về tài sản cũng như nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th.

2. Về nuôi con chung: Giao anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung là cháu Nguyễn T, sinh ngày 05/11/2013, cháu Nguyễn Thị Tr, sinh ngày 24/4/2015 và cháu Nguyễn Cát Ngọc Nh, sinh ngày 03/01/2020. Chị Nguyễn Thị Th không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. (con chung hiện đang ở cùng anh Đ).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Văn Đ phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0003105 ngày 02-4-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; anh Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ