- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Thị Bích H2 và Nguyễn Anh L phạm tội: “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2022/HS-ST Ngày: 19-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Cường và bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Hạ Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Bà Lương Ngọc Anh - kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2022, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 160/2022/HSST ngày 26/8/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2022/QĐXXST-HS ngày 05/9/2022 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Phạm Thị Y, sinh ngày 27/9/1978 tại tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 2, khu 1, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Phạm Thanh H (Đã chết) và bà Đặng Thị M, sinh năm 1948. Họ và tên chồng: Nguyễn Hoàng Đ (đã ly hôn). Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 03/6/2022, tạm giữ đến ngày 12/6/2022; áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/6/2022, có mặt.
2. Họ và tên: Trần Sơn T, sinh ngày 08/02/1968 tại tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 9B, khu 2, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Trần Khiêm H, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1941. Họ và tên vợ: Đinh Thị H, sinh năm 1972. Có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 13/3/1999, bị TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 11 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 30/8/2005 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 30/9/2019 chấp hành xong phần thi hành án dân sự. Bị bắt quả tang ngày 03/6/2022, tạm giữ đến ngày 12/6/2022; áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/6/2022, có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Thị Bích H2, sinh ngày 20/7/1968 tại tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Tổ 3, khu 3, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Xuân N (đã chết) và bà Vũ Thị L, sinh năm 1945. Họ và tên chồng: Ninh Văn C, sinh năm 1968. Có 02 con; con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 03/6/2022, tạm giữ đến ngày 12/6/2022; áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/6/2022, có mặt.
4. Họ và tên: Nguyễn Anh L, sinh ngày 07/11/1982 tại tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 3, khu 5, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1958 và bà Đồng Thị U, sinh năm 1863. Họ và tên chồng: Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1971. Có 01 con sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 03/6/2022, tạm giữ đến ngày 12/6/2022; áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/6/2022, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Tổ 48A, khu 4B, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt
2. Chị Vũ Thị X, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Tổ 7, khu 5A, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt
- Người chứng kiến: Ông Phạm Quang H, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Tổ 49C, khu 6A, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 03/6/2022, Trần Sơn T, Nguyễn Anh L, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị Bích H2 và chị Vũ Thị X đều là bạn bè quen biết, rủ nhau đến nhà riêng của anh Nguyễn Quốc Th, ở tổ 49C, khu 6A, phường H, thành phố Hạ Long để ăn cơm. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, anh Th say rượu nằm ngủ dưới tầng 01; còn T, L, Y và H2 cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc”. Sau đó L đi ra ngoài mua 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài rồi quay về, cả 04 người đi lên phòng ngủ trên tầng 2 của nhà anh Th để đánh bạc. Chị X cũng đi lên tầng 2 nhưng không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem. Bốn người là T, L, Y và H2 ngồi xung quanh dưới tấm thảm xốp màu trắng để đánh bạc. Đến hồi 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi T, Y, L và H2 đang đánh bạc thì bị Công an thành phố Hạ Long phát hiện bắt quả tang .
Cách thức chơi cụ thể như sau: Bốn người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài (từ 2 đến Át) sau khi đảo, bộ bài được chia ngẫu nhiên cho 4 người, mỗi người 10 quân bài, quy định quân 2 là lớn nhất, quân 3 là nhỏ nhất. Ván đầu tiên, trước khi chia bài, mọi người bốc bài, ai bốc được quân bài cao hơn thì giành được “cái” và được đánh quân bài đầu tiên. Từ ván thứ hai trở đi, người nhất ván trước được đánh quân bài đầu tiên. Người đánh sau chặn bài của người đánh trước bằng quân bài hoặc bộ bài lớn hơn, lần lượt theo thứ tự vòng tròn. Khi chơi người chơi có thể đánh từng quân bài, đánh hai quân bài cùng số, đánh ba quân bài cùng số “đánh sáp” hoặc đánh sảnh, khi một người đánh hết 10 quân bài trên tay trước thì người đó T, những người còn bài trên tay phải nộp cho người T 10.000đồng/01 quân bài. Người nào còn nguyên bài trên tay gọi là “Lủng” thì phải nộp cho người T số tiền là 150.000 đồng. Sau khi chia bài nếu ai thấy bài của mình không bị ai đánh chặn được thì “báo bài”, mỗi người còn lại sẽ phải đưa 200.000 đồng cho người báo; nếu có người chặn được bài của người báo thì người báo phải trả số tiền 800.000 đồng cho người chặn mình; người nào có tứ quý (bốn quân bài cùng số) “Chặt” được một quân 2 thì người bị chặt 2 phải trả 200.000 đồng cho người chặt; người nào bị thối quân 2, nghĩa là khi kết thúc ván chơi vẫn còn quân 2 trên bài thì bị thua thêm số tiền 50.000 đồng đối với mỗi quân 2 còn trên bài. Cách quy ước này là cách thức chơi chung, cả nhóm tự hiểu, không có ai trong nhóm đứng ra quy ước.
Vật chứng thu giữ: Tổng số tiền 18.660.000 đồng gồm 9.910.000 đồng (Chín triệu chín trăm mười nghìn đồng) trên chiếu đánh bạc và 8.750.000 đồng (Tám triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ trong túi xách màu nâu của Nguyễn Thị Bích H2 để ở vị trí H2 ngồi; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 (một) tấm thảm xốp màu trắng có họa tiết, kích thước (1,8x2)m. (Bút lục số 21, 70-71).
Về số tiền sử dụng vào việc đánh bạc, các bị cáo khai nhận:
- Nguyễn Thị Bích H2 khai khi đi H2 mang theo 10.960.000 đồng, bỏ ra 2.210.000 đồng để đánh bạc nhiều ván, còn 8.750.000 đồng để trong túi xách là tiền để riêng dùng để lo việc đám cưới cho con H2, đã T 2.690.000 đồng, bị thu giữ 4.900.000 đồng.
- Trần Sơn T khai bỏ ra 1.000.000 đồng để đánh bạc nhiều ván, đã thua 90.000 đồng, bị thu giữ 910.000 đồng.
- Nguyễn Anh L khai bỏ ra 1.000.000 đồng để đánh bạc nhiều ván, đã T 1.600.000 đồng, bị thu giữ 2.600.000 đồng.
- Phạm Thị Y khai bỏ ra 5.700.000 đồng để đánh bạc nhiều ván, đã thua 4.200.000 đồng, bị thu giữ 1.500.000 đồng.
Về vật chứng: Tổng số tiền thu giữ 18.660.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 tấm thảm xốp màu trắng có họa tiết, kích thước (1,8x2)m, 01 túi xách màu nâu thu của Nguyễn Thị Bích H2.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Thị Bích H2 và Nguyễn Anh L có lời khai giống với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Lời khai của người làm chứng:
Chị Vũ Thị X: Khoảng 13 giờ ngày 03/6/2022, sau khi ăn xong anh Th say rượu nên ngủ ở tầng 1, lúc này T, L, Y, H2 rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc”, thỏa thuận 10.000 đồng/ quân bài. L đi mua bộ bài tú lơ khơ rồi cả nhóm cùng nhau lên phòng ngủ tầng 2 để đánh bạc, chị không tham gia nên ngồi xem. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi T, L, H2, Y đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ số tiền 9.910.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 tấm thảm xốp màu trắng có họa tiết, kích thước (1,8x2)m. Ngoài ra, còn thu giữ số tiền 8.750.000 đồng trong túi xách màu nâu tại vị trí của Nguyễn Thị Bích H2 ngồi. Khi cả nhóm đánh bạc thì anh Th chủ nhà ngủ ở tầng 1 không biết sự việc, chị không tham gia đánh bạc (Bút lục số 215-218).
Anh Nguyễn Quốc Th khai: Khoảng 12 giờ ngày 03/06/2022, T, L, Y, H2, X đến nhà anh ăn uống. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, ăn xong anh say rượu nên ngủ ở tầng 1. Đến 14 giờ 20 phút, Công an phát hiện bắt quả tang T, L, Y, H2 đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc” tại phòng ngủ tầng 2 ở nhà anh. Việc đánh bạc ở tầng 2 anh không biết. Chiếc thảm xốp là của nhà anh dùng để sinh hoạt sử dụng hàng ngày; hiện nay Cơ quan điều tra đã thu giữ anh không muốn nhận lại (Bút lục số 219-223)
Lời khai của người chứng kiến ông Phạm Quốc Hoan: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/6/2022, ông được chứng kiến việc lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang tại nhà của anh Nguyễn Quốc Th có 04 người đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc” là Trần Sơn T, Nguyễn Anh L, Phạm Thị Y và Nguyễn Thị Bích H2. Vật chứng thu giữ: số tiền 9.910.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 tấm thảm xốp màu trắng có họa tiết; ngoài ra Công an còn thu giữ số tiền 8.750.000 đồng trong túi xách màu nâu tại vị trí của H2 ngồi (Bút lục số 224, 225)
Bản Cáo trạng số 164/CT-VKSHL ngày 24/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Thị Bích H2 và Nguyễn Anh L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 35, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Sơn T: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng. Áp dụng khoản 1 Điều 321, khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS đối với các bị cáo Y, H2, L: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Y: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thị Bích H2: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh L: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.910.000 đồng dùng vào việc đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 tấm thảm xốp màu trắng có họa tiết, kích thước (1,8x2); trả lại cho bị cáo H2 số tiền 8.750.000 đồng và 01 túi xách màu nâu; nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Thị Bích H2 và Nguyễn Anh L thừa nhận hành vi các bị cáo đã thực hiện vào ngày 03/6/2022 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến về thời gian, địa điểm các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc; phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 19-21); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (Bút lục số 70-71); biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường (Bút lục số 127-130); bản ảnh (Bút lục số 131-141) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khẳng định việc truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan sai.
Như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 03/6/2022, tại nhà riêng của anh Nguyễn Quốc Th, thuộc tổ 49C, khu 6A, phường H, thành phố Hạ Long, Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Anh L, và Nguyễn Thị Bích H2 đã có hành vi dùng bộ bài tú lơ khơ, đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh “Lốc”. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, thì bị Công an thành phố Hạ Long phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.910.000 đồng (Chín triệu chín trăm mươi nghìn đồng) và 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài.
Hành vi của các bị cáo Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Thị Bích H2 và Nguyễn Anh L đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể được pháp luật Nhà nước ta bảo vệ. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; mục đích kiếm lời phục vụ cho bản thân; động cơ phạm tội là lợi nhuận. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Y, H2, L phạm tội lần đầu, thuôc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, cả bốn bị cáo đều nảy sinh ý định và rủ nhau cùng thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Y có số tiền dùng vào việc đánh bạc nhiều nhất; bị cáoT có số tiền đánh bạc thấp hơn bị cáo Y, nhưng nhân thân đã có tiền án (đã được xóa án tích) nên hai bị cáo có mức hình phạt ngang nhau. Các bị cáo H2, L có số tiền dùng vào việc đánh bạc ít hơn nên có vai trò và mức hình phạt ngang nhau, thấp hơn hai bị cáo Y và T.
Xét các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền bỏ ra đánh bạc không lớn và có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng: Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.910.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc thảm xốp của anh Thuỷ, anh Thuỷ không yêu cầu nhận lại, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 8.750.000 đồng và 01 túi xách màu nâu thu giữ của bị cáo H2 không liên quan đến việc phạm tội trả lại cho bị cáo H2, riêng số tiền tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với anh Nguyễn Quốc Th và chị Vũ Thị X, không tham gia đánh bạc hay giúp sức cho việc đánh bạc nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thị Y, Trần Sơn T, Nguyễn Thị Bích H2 và Nguyễn Anh L phạm tội: “Đánh bạc”
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phạm Thị Y 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Sơn T 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Thị Bích H2, Nguyễn Anh L;
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phạm Thị Bích H2 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Anh L 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.910.000 đồng (chín triệu, chín trăm mười nghìn đồng)
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, 01 tấm thảm xốp màu trắng có họa tiết, kích thước (1,8x2)m đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Bích H2 số tiền 8.750.000 (tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 túi xách màu nâu, riêng số tiền tạm giữ tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 228/BB-THA ngày 16/9/2022 giữa Công an thành phố Hạ Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, Biên bản giao nhận tài sản số 78/2022/BBBG-CATPHL ngày 15/6/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long và Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh)
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về án phí, L phí tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước
Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hạ Long; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - CQ CSĐT-Công an TP Hạ Long; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; - CQ THAHS-Công an TP Hạ Long; - THADS thành phố Hạ Long; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Giang Thanh |