- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRiệu Thị Thanh X và Tô Thanh T tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Tô Thanh T về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất đối với ông Triệu Phƣơng H và bà Triệu Thị Thanh X.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 172/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 9 - 2022 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc;
2. Ông Đoàn Lê Nam Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 218/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Thanh X, sinh năm 1991; thƣờng trú: Số 40D Phan Huy Ích, khu phố L 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có mặt.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Anh Đậu Đức N, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Thôn 19, xã V, huyện L, tỉnh A. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bị đơn: Anh Tô Thanh T, sinh năm 1991; thƣờng trú: Số 40D Phan Huy Ích, khu phố L 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1977 và anh Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1996; địa chỉ liên hệ: Số 62, đƣờng số 1, Trung tâm hành chính thành phố A, khu phố Đ 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Anh Đ vắng mặt, anh Đ có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Triệu Phƣơng H, sinh năm 1968 và bà Trƣơng Thị T, sinh năm 1968; cùng thƣờng trú: Số 40D Phan Huy Ích, khu phố L 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Anh Đậu Đức N, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Thôn 19, xã V, huyện L, tỉnh A. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
2. Ông Tô Văn B, sinh năm 1956 và bà Trần Kim T, sinh năm 1959; cùng thƣờng trú: Số 01/19, khu phố L 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
3. Văn phòng thừa phát lại A; trụ sở: Số 02, đƣờng B, khu trung tâm hành chính thành phố A, tỉnh D.
Ngƣời đại diện hợp pháp ông Nguyễn Hồng Q. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/9/2021, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Triệu Thị Thanh X và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Đậu Đức N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh T trƣớc khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thành phố A, tỉnh D theo giấy chứng nhận kết hôn số 22-TP/HT-2017-KH ngày 10/02/2017.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thƣơng nhau đƣợc một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm để cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con chung nhƣng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạng ai nấy sống. Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Tô Triệu Phúc T, sinh ngày 03/12/2017. Hiện nay cháu Thắng học mẫu giáo và đang sống chung với chị đƣợc chị chăm sóc, nuôi dƣỡng chu đáo. Chị làm công nhân, thời gian làm việc sáng 06 giờ vào ca, chiều 16 giờ tan ca nên có điều kiện đƣa đón cháu đi học. Anh T công việc là lái xe nên không có thời gian chăm sóc đƣa đón cháu. Để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh xáo trộn cuộc sống của cháu Chị X yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Quá trình sống chung vợ chồng có tài sản chung là quyền sử dụng đất có diện tích 115 m2 và tài sản gắn liền trên đất, thuộc thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66, tọa lạc khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An đã đƣợc Sở tài nguyên và môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS16646 ngày 30/7/2018.
+ Nguồn gốc tài sản chung: Tháng 02/2017, vợ chồng kết hôn rồi chung sống tại nhà bố mẹ Chị X địa chỉ: Số 33/9 khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Khoảng tháng 4/2018 thì bố mẹ anh T (ông Tô Văn B và bà Trần Kim T) cho hai vợ chồng phần đất nói trên. Khi cho thì ông B và bà Tchỉ nói miệng rồi yêu cầu vợ chồng đi làm thủ tục sang tên. Hiện trạng đất lúc cho là đất trống nên hai vợ chồng ban đầu xây dựng căn nhà tiền chế khoảng hơn 60 m2 sinh sống. Đến tháng 7/2018 thì vợ chồng ông B và bà T ký hợp đồng tặng cho anh T quyền sử dụng đất trên tại Văn phòng công chứng Trần Thanh Vũ. Hợp đồng tặng cho chỉ có anh T là bên đƣợc tặng cho nhƣng Chị X xác định phần đất trên tặng cho hai vợ chồng. Sau khi đƣợc tặng cho thì hai vợ chồng làm thủ tục và đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đất đƣợc cho là trồng cây lâu năm không đƣợc xây dựng nhà ở nên Chị X làm thủ tục chuyển mục đích thành đất ở đối với diện tích 114.1 m2. T bộ số tiền chuyển mục đích 87.286.500 đồng là tiền riêng của chị lấy từ số tiền gửi tiết kiệm chị đƣợc bố mẹ cho và tích góp đƣợc 240.000.000 đồng gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Sau khi chuyển mục đích sử dụng đất do thiếu tiền xây nhà nên hai vợ chồng bàn bạc bán đi một phần đất. Biết hai vợ chồng muốn bán đất, bố mẹ Chị X (ông Triệu Phƣơng H và bà Trƣơng Thị T) hỏi mua nên ngày 10/10/2018 anh T đứng tên hợp đồng chuyển nhƣợng phần đất diện tích 40 m2 (ngang 4m, dài 10m), hợp đồng đƣợc công chứng vi bằng tại Văn phòng thừa phát lại Dĩ An. Anh T và chị đã giao đất và ông Hđã thanh toán số tiền 190.000.000 đồng. Số tiền chuyển nhƣợng nhận đƣợc anh T dùng trả nợ ở ngoài (số nợ này anh T nợ ai Chị X không biết) và có đƣa lại cho Chị X khoảng 30.000.000 đồng để xây dựng nhà.
Ngày 23/11/2018, vợ chồng xin phép xây dựng rồi xây dựng căn nhà có hiện trạng nhƣ hiện nay. Vợ chồng chung sống đến tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn anh T đuổi chị ra khỏi nhà nên hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay.
Nay Chị X yêu cầu Tòa án chia ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng. Chị đồng ý giao nhà đất cho anh T và anh T có nghĩa vụ trả ½ giá trị tài sản chung cho chị. Đối với số tiền riêng đã sử dụng để xây dựng nhà và chuyển mục đích sử dụng đất thì chị xác định của chồng công vợ nên đƣa vào tài sản chung của vợ chồng và không có yêu cầu gì thêm. Đối với phần đất đã chuyển nhƣợng cho ông Hthì yêu cầu tòa án công nhận hợp đồng và công nhận quyền sử dụng đất cho ông Hvì việc chuyển nhƣợng là sự tự nguyện của các bên, ông Hvà bà T đã trả hết tiền, xây dựng nhà ở sinh sống ổn định từ đó đến nay.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay tài sản.
Tại đơn khởi kiện ngày 14/3/2022, lời khai trong quá trình tố tụng của bị đơn anh Tô Thanh T và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn anh Lê Huỳnh Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về thời gian tìm hiểu, chung sống, đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng. Nay anh T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên anh đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Tô Triệu Phúc T, sinh ngày 03/12/2017, sau khi ly hôn anh yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu Chị X có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản tranh chấp: Sau khi vợ chồng có con chung do chỗ ở bên nhà Chị X chật hẹp nên ông B và bà Tmới cho anh T phần đất có diện tích 115 m2, đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66 tọa lạc khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An. Do là cho riêng anh nên bố mẹ anh không nói gì với Chị X.
Ngày 09/7/2018, anh T và ông B, bà T ký văn bản thỏa thuận, cam kết theo đó nội dung chính thể hiện phần đất nói trên là đất ông B, bà Tcho riêng và anh cam kết trƣớc khi ông B, bà Tchết không đƣợc bán, chuyển nhƣợng, tặng cho hay cầm cố thửa đất trên cho bất kỳ ai. Ngày 11/7/2018, anh T cùng ông B, bà T ra Văn phòng công chứng Trần Thanh Vũ để ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Ngày 30/7/2018, anh T đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi sang tên, anh T làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở. Số tiền chuyển mục đích 87.286.500 đồng do anh vay vợ chồng ông B (có giấy mƣợn tiền ngày 05/10/2018). Khi đi đóng tiền do anh T bận chạy xe nên đƣa tiền cho Chị X lên Chi cục thuế nộp thay. Anh xác định T bộ số tiền chuyển mục đích là tiền anh vay của ông B chứ không phải tiền riêng của Chị X nhƣ chị trình bày.
Sau khi chuyển mục đích xong anh xin phép rồi xây dựng căn nhà nhƣ hiện nay. Khi xây dựng anh chừa lại phần đất có diện tích khoảng 40 m2. Lúc này Chị X ép anh phải bán cho bố mẹ Chị X nếu không chị sẽ nộp đơn ly hôn ra Tòa. Ngày 10/10/2018, anh T đứng tên hợp đồng chuyển nhƣợng cho ông Triệu Phƣơng H phần đất diện tích 40 m2 (ngang 4m, dài 10m), các bên lập bản cam kết đồng thời lập vi bằng tại Văn phòng thừa phát lại Dĩ An ghi nhận việc giao nhận tiền. Anh đã giao đất và ông Hđã thanh toán số tiền 190.000.000 đồng. Số tiền chuyển nhƣợng nhận đƣợc anh dùng một phần trả số tiền đã mƣợn của ông B và số còn lại để sửa nhà. Anh xác định mặc dù có dùng một phần số tiền nhận chuyển nhƣợng để xây nhà nhƣng trách nhiệm trả số tiền này cho ông Hnếu hợp đồng giữa các bên vô hiệu là của anh và không yêu cầu Chị X liên đới đối với số tiền này.
Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên vô hiệu đối với giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất thông qua “Bản cam kết” đƣợc ký giữa anh T với ông Triệu Phƣơng H ngày 10/10/2018.
- Buộc ông Hvà bà Trƣơng Thị T trả lại cho anh T phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 41.1 m2, thuộc một phần thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66; địa chỉ khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh T có nghĩa vụ trả lại cho ông Triệu Phƣơng H và bà Trƣơng Thị T số tiền 190.000.000 đồng và giá trị tài sản của ông Hvà bà T gắn liên trên đất theo kết quả định giá tài sản.
- Đối với phần đất anh T đƣợc tặng cho riêng anh không đồng ý chia. Đối với căn nhà và các tài sản khác là do tiền của anh T vay mƣợn và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất xây dựng, Chị X không có đóng góp gì nhƣng vì tình nghĩa vợ chồng anh đồng ý cho Chị X 10% giá trị các tài sản gắn liền trên đất.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai và không ai nợ anh chị.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/7/2022, lời khai trong quá trình tố tụng của ông Triệu Phương H, bà Trương Thị T và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của ông Hvà bà T là anh Đậu Đức N trình bày:
Năm 2017, anh T và Chị X kết hôn, ban đầu hai vợ chồng chung sống với vợ chồng ông Htại nhà số 33/9 khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An. Đến năm 2018, thì anh T và Chị X đƣợc bố mẹ chồng cho phần đất diện tích 115 m2 nên hai vợ chồng chuyển về xây dựng nhà chung sống trên đất. Để có nơi ở vợ chồng anh T ban đầu xây dựng nhà tiền chế sau đó xây dựng căn nhà diện tích khoảng 60 m2, phần còn lại để trống diện tích khoảng 40 m2. Trƣớc khi xây dựng căn nhà trên anh T có nói là thiếu nợ bên ngoài nên muốn bán phần đất 40 m2. Do chỗ bố mẹ nên ông bà hỏi mua thì anh T và Chị X đồng ý bán phần đất 40 m2 với giá 190.000.000 đồng. Do diện tích nhận chuyển nhƣợng không đủ điều kiện tách thửa nên các bên ra Văn phòng công chứng Dĩ An lập bản cam kết và vi bằng chứ không ký hợp đồng chuyển nhƣợng tại Văn phòng công chứng. Khi nhận chuyển nhƣợng thì đất đã đƣợc chuyển mục đích thành đất ở. Ông bà giao đủ tiền và nhận đất xây dựng nhà năm 2018 rồi sinh sống từ đó đến nay không có tranh chấp gì.
Trƣớc khi anh T và Chị X kết hôn thì ông bà có cho Chị X số tiền 200.000.000 đồng và Chị X có mở sổ tiết kiệm tại Ngân hàng. Nguồn gốc số tiền trên là do ông bà bán đất mà có. Sau đó việc Chị X sử dụng số tiền trên nhƣ thế nào thì ông bà không biết và cũng không có ý kiến gì.
Nay ông Hvà bà T yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa các bên và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho vợ chồng ông bà.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/7/2022, lời khai trong quá trình tố tụng ông Tô Văn B và bà Trần Kim T trình bày:
Chị X và anh T kết hôn với nhau năm 2017. Sau khi kết hôn thì ở chung với bố mẹ vợ tại phƣờng Dĩ An, khoảng 01 năm thì sinh cháu Tô Triệu Phúc T. Do nhà bố mẹ vợ chật hẹp nên ông bà quyết định cho anh T phần đất có diện tích 115 m2, đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66 tọa lạc khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An để anh T xây dựng nhà ở cho vợ chồng và con cái. Ông bà cho phần đất trên là cho riêng anh T chứ không cho chị Triệu Thị Thanh X.
Ngày 09/7/2018, vợ chồng ông B và anh T ký văn bản thỏa thuận, cam kết theo đó nội dung chính thể hiện phần đất nói trên là cho riêng anh T. Văn bản cũng thể hiện trƣớc khi ông bà chết, anh T không đƣợc bán, chuyển nhƣợng, tặng cho hay cầm cố thửa đất trên cho bất kỳ ai. Sỡ dĩ các bên lập văn bản trên là để anh T có trách nhiệm trong việc chăm sóc bố mẹ và cũng tránh trƣờng hợp phát sinh tranh chấp với bên thứ ba. Ngày 11/7/2018 vợ chồng ông B cùng với anh T ra Văn phòng công chứng Trần Thanh Vũ để lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Sau khi ký kết hợp đồng thì đƣa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ cho anh T làm các thủ tục và anh T đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Khoảng 10 ngày sau khi đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh T mƣợn ông bà 95.000.000 đồng, anh T nói mƣợn để chuyển mục đích sử dụng đất. Sau đó anh T sử dụng số tiền trên nhƣ thế nào thì ông bà không rõ. Về vợ chồng ông Hvà bà T thì về sau ông bà thấy có chuyển về sống chung nhà với anh T và Chị X rồi ông Hthuê thợ xây trên phần đất còn lại căn nhà và sinh sống cho đến nay.
Phần đất ông bà cho là cho riêng anh T, việc anh T chuyển nhƣợng lại một phần cho ông Hvà bà T là đã vi phạm bản thỏa thuận và cam kết với ông bà lập ngày 09/7/2018. Nay ông bà thống nhất với yêu cầu của anh T đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhƣợng giữa anh T và ông Hùng. Đối với số tiền 95.000.000 đồng anh T đã trả lại cho ông bà đầy đủ nên ông bà không có yêu cầu gì thêm.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 02/8/2022, người đại diện hợp pháp của Văn phòng thừa phát lại Dĩ An trình bày:
Xin đƣợc vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cam đoan hoàn T chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về tính hợp pháp, chính xác, trung thực của đơn xin xét xử vắng mặt.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Phần tài sản ông Triệu Phƣơng H và bà Trƣơng Thị T hiện đang quản lý, sử dụng:
+ Đất ở có giá: 41.1m2 x 15.000.000 đồng/m2 = 616.500.000 đồng.
+ Tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 34.3 m2 có giá 82.834.500 đồng; gác bê tông diện tích 22.5 m2 có giá 54.337.500 đồng; cửa sắt + cột sắt diện tích 4 m2, có giá 472.000 đồng; mái che tôn có giá 3.270.750 đồng.
- Phần tài sản anh Tô Thanh T và chị Triệu Thị Thanh X quản lý, sử dụng:
+ Đất ở có giá: 73 m2 x 15.000.000 đồng/m2 = 1.095.000.000 đồng.
+ Đất trồng cây lâu năm có giá: 0.9 m2 x 11.000.000 đồng/m2 = 9.900.000
đồng.
+ Tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 62.7 m2 có giá 151.420.500 đồng; mái che tôn có giá 3.962.280 đồng; 01 giếng khoan + máy bơm có giá 5.382.000 đồng; đồng hồ điện kế chính có giá 1.755.000 đồng; hàng rào gạch xây tô diện tích 13.25 m2 có giá 6.297.725 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân anh T và Chị X thống nhất ly hôn nên ghi nhận.
- Về con chung: Cháu Tô Triệu Phúc T, sinh ngày 03/12/2017 còn nhỏ, từ trƣớc đến nay sống với Chị X và đƣợc Chị X chăm sóc tốt cả về vật chất lẫn tinh thần nên cần giao cháu Thắng cho Chị X trực tiếp nuôi dƣỡng và buộc anh T cấp dƣỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Thắng đủ 18 tuổi.
- Về tài sản:
+ Quyền sử dụng đất anh T đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thông qua hợp đồng tặng cho đƣợc công chứng chức thực hợp pháp và đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có căn cứ chia quyền sử dụng đất theo yêu cầu của Chị X. Tuy nhiên, xét Chị X có thời gian sống trên đất nên cần tính công sức đóng góp, giữ gìn, tôn tạo với mức 20% giá trị phần đất anh T và Chị X quản lý, sử dụng.
+ Về các tài sản gắn liền trên đất: Đƣợc hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên đề nghị chia ½ giá trị các tài sản cho Chị X, Chị X yêu cầu đƣợc nhận giá trị nên giao anh T quản lý sử dụng tài sản trên đất.
- Về hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất: Phần đất ông Hùng, bà T nhận chuyển nhƣợng của anh T hiện nay không tiếp giáp đƣờng và diện tích tối thiểu cũng không đủ tách thửa theo quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng. Mặt khác, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực…”. Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai”. Nhƣ vậy hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất thông qua bản cam kết ngày 10/10/2018 giữa anh T và ông Hđã vi phạm về mặt hình thức theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 do đó hợp đồng nói trên vô hiệu theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2015. Nguyên nhân dẫn tới hợp đồng vô hiệu thấy rằng, bản thân ông Hvà anh T đều biết việc chuyển nhƣợng bằng giấy tay là không đƣợc pháp luật công nhận nhƣng vẫn tiến hành ký kết hợp đồng nên lỗi trong trƣờng hợp này thuộc về cả hai bên, mức độ lỗi là nhƣ nhau. Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 việc giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhƣ sau: Anh T có trách nhiệm hoàn trả cho ông Hùng, bà T số tiền 190.000.000 đồng đã nhận khi ký hợp đồng chuyển nhƣợng. Đối với số tiền chênh lệch theo kết quả thẩm định giá là 616.500.000 đồng – 190.000.000 đồng = 426.500.000 đồng, anh T có trách nhiệm trả cho ông Hvà bà T 50% số tiền chênh lệch giá trị tăng thêm tƣơng đƣơng số tiền 213.250.000 đồng. Ông Hvà bà T có tránh nhiệm trả lại phần đất tranh chấp và các tài sản gắn liền trên đất cho anh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về điều kiện thụ lý và quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn yêu cầu giải quyết hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất của của bị đơn thì đây là vụ án Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bị đơn anh Tô Thanh T; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tô Văn B và bà Trần Kim T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự có tên trên.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Triệu Thị Thanh X và anh Tô Thanh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận kết hôn số 22-TP/HT-2017-KH ngày 10/02/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Anh T và Chị X đều xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhƣng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Anh T và Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên đồng ý ly hôn. Do đó, Chị X yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung:
Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Tô Triệu Phúc T, sinh ngày 03/12/2017. Khi ly hôn Chị X yêu cầu trực tiếp nuôi dƣỡng và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dƣỡng 2.000.000 đồng/tháng. Khi giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy cháu T từ trƣớc đến nay đều sống chung với Chị X, Chị X công việc ổn định có điều kiện chăm sóc, đƣa đón, nuôi dƣỡng cháu. Do đó cần giao cháu Thắng cho Chị X trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Buộc anh T có nghĩa vụ cấp dƣỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Về tài sản tranh chấp:
Tài sản hiện đang tranh chấp gồm có:
Phần A2 + C trên Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 07/6/2022 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An cung cấp hiện do anh T và Chị X quản lý, sử dụng gồm: Đất ở 73 m2, đất trồng cây lâu 0.9 m2 và tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 62.7 m2; mái che tôn diện tích 12.72 m2; 01 giếng khoan + máy bơm; đồng hồ điện kế chính; hàng rào gạch xây tô diện tích 13.25 m2.
Phần A1 + B trên Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 07/6/2022 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An cung cấp hiện do anh ông Hvà bà T quản lý, sử dụng gồm: Đất ở 41.1 m2 và tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 34.3 m2; gác bê tông diện tích 22.5 m2 ; cửa sắt + cột sắt diện tích 4 m2; mái che tôn có diện tích 10.5 m2.
Về yêu cầu chia tài sản của Chị X thấy rằng:
Anh T và Chị X kết hôn ngày 10/02/2017, thời điểm này Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đang có hiệu lực. Căn cứ vào Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thời kỳ hôn nhân của anh T và Chị X bắt đầu từ ngày đăng ký kết hôn là ngày 10/02/2017. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”
- Xét nguồn gốc, quá trình hình thành tài sản:
+ Về quyền sử dụng đất: Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 11/7/2018 anh T đƣợc ông B và bà Tký hợp đồng tặng cho riêng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng, Chị X cho rằng đƣợc ông B và bà T tặng cho quyền sử dụng đất nói trên nhƣng không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh về việc mình đƣợc tặng cho. Thời điểm ký kết hợp đồng anh T và Chị X đã đăng ký kết hôn nhƣng hợp đồng tặng cho thể hiện chỉ anh T là bên đƣợc tặng cho. Quá trình giải quyết vụ án ông B và bà T đều thể hiện ý chí của ông bà là tặng cho quyền sử dụng đất riêng anh T. Điều này phù hợp với chứng cứ là bản Di chúc ông B và bà T lập ngày 30/5/2016 tại Văn phòng công chứng Trần Thanh Vũ và Văn bản thỏa thuận cam kết ngày 09/7/2018 giữa ông B, bà Tvà anh T về việc vợ chồng ông B tặng cho riêng phần đất nói trên cho anh T. Từ khi đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đến nay, trong suốt thời kỳ hôn nhân với Chị X vợ chồng không có thỏa thuận đây là tài sản chung. Do đó, quyền sử dụng đất này vẫn là tài sản riêng của anh T, Chị X yêu cầu xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung để chia và yêu cầu đƣợc nhận ½ giá trị diện tích đất là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, anh T đã đƣa vào sử dụng chung với Chị X đối phần diện tích đất ở 73 m2 và đất trồng cây lâu 0.9 m2. Trong suốt thời kỳ hôn nhân của vợ chồng, Chị X cũng có công sức trong việc quản lý, giữ gìn để duy trì tài sản. Vì vậy, cần xem xét buộc anh T thanh toán cho Chị X mô ̣t khoản tiền tƣơng xƣ́ ng vớ i công sƣ́ c quản lý , duy tri giá trị quyền sử
̀ dụng đất đối với phần diện tích anh T và Chị X thực tế quản lý sử dụng là 15% giá trị đất theo giá Hội đồng định giá đã định.
+ Về tài sản gắn liên trên đất: Anh T và Chị X đều xác nhận việc xây dựng các tài sản trên đất là trong thời kỳ hôn nhân. Do đó có căn cứ xác định các tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng.
Nhƣ vậy, tài sản chung của vợ chồng anh T và Chị X gồm có:
Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 62.7 m2 có giá 151.420.500 đồng; mái che tôn có giá 3.962.280 đồng; 01 giếng khoan + máy bơm có giá 5.382.000 đồng; đồng hồ điện kế chính có giá 1.755.000 đồng; hàng rào gạch xây tô diện tích 13.25 m2 có giá 6.297.725 đồng. Chị X yêu cầu đƣợc chia ½ giá trị các tài sản trên là có căn cứ chấp nhận.
Cụ thể việc phân chia tài sản nhƣ sau:
Tổng giá trị tài sản chung là 168.817.505 đồng, anh T đƣợc chia ½ tƣơng đƣơng 84.408.752 đồng, Chị X đƣợc chia ½ tƣơng đƣơng 84.408.752 đồng. Chị X yêu cầu đƣợc nhận giá trị. Nhƣ vậy, anh T phải thanh toán lại cho Chị X 84.408.752 đồng giá trị tài sản trên đất và 15% giá trị đất tƣơng đƣơng 165.735.000 đồng.
Xét hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất (bản cam kết về việc chuyển nhƣợng một phần diện tích đất ngày 10/10/2018) thấy rằng:
Ngày 10/10/2018, ông Triệu Phƣơng H và anh Tô Thanh T tiến hành ký bản cam kết về việc chuyển nhƣợng một phần diện tích đất bằng giấy tay đồng thời có lập vi bằng tại Văn phòng thừa phát lại Dĩ An ghi nhận việc ông H giao cho anh T số tiền nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất là 190.000.000 đồng. Bản cam kết về việc chuyển nhƣợng một phần diện tích đất chỉ có ông Hđứng tên, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án xác định số tiền dùng để nhận chuyển nhƣợng là tài sản chung của ông Hvà bà T. Sau khi ký bản cam kết về việc chuyển nhƣợng một phần diện tích đất ông Hvà bà T đã giao cho anh T 190.000.000 đồng và anh T cũng đã giao đất cho vợ chồng ông Hxây dựng nhà sử dụng từ đó đến nay.
Phần đất ông H , bà T nhận chuyển nhƣợng của anh T hiện nay không tiếp giáp đƣờng và diện tích tối thiểu cũng không đủ tách thửa theo quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng. Mặt khác, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực…”. Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai”. Theo Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại quy định: “Thừa phát lại được lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi T quốc. Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác”.
Nhƣ vậy bản cam kết về việc chuyển nhƣợng một phần diện tích đất ngày 10/10/2018 nói trên đã vi phạm về mặt hình thức theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 do đó vô hiệu theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với vi bằng số 1158/2018/VB-TPL ngày 10/10/2018 tại Văn phòng thừa phát lại Dĩ An là một phần không thể tách rời của bản cam kết ngày 10/10/2018 nên vi bằng không có hiệu lực vì vậy cần tuyên hủy vi bằng để đảm bảo quyền lợi của các bên.
Xét nguyên nhân dẫn tới hợp đồng vô hiệu thấy rằng, bản thân ông H, bà T và anh T đều biết việc chuyển nhƣợng bằng quyền sử dụng đất bằng giấy tay là không đƣợc pháp luật công nhận nhƣng vẫn tiến hành ký kết hợp đồng nên lỗi trong trƣờng hợp này thuộc về cả hai bên, mức độ lỗi là nhƣ nhau. Anh T xác định hợp đồng vô hiệu và tự nguyện trả số tiền 190.000.000 đồng đã nhận của ông Htại thời điểm ký kết hợp đồng. Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 việc giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhƣ sau: Anh T có trách nhiệm hoàn trả cho ông H và bà T số tiền 190.000.000 đồng. Đối với số tiền chênh lệch theo kết quả thẩm định giá là 616.500.000 đồng – 190.000.000 đồng = 426.500.000 đồng, do lỗi các bên là nhƣ nhau nên anh T có trách nhiệm trả cho ông H và bà T 50% số tiền chênh lệch giá trị tăng thêm tƣơng đƣơng số tiền 213.250.000 đồng. Đối với giá trị các tài sản gắn liền trên đất do ông H và bà T tạo lập sau khi nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất là 140.914.750 đồng anh T có trách nhiệm thanh toán lại cho ông H và bà T. Ông H và bà T có tránh nhiệm trả lại phần đất tranh chấp và các tài sản gắn liền trên đất cho anh T.
Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh T và Chị X xác định không nợ ai và không cho ai vay tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên về vấn đề con chung, cấp dƣỡng, giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, chia tài sản là phù hợp; ý kiến về việc chia % công sức quản lý, duy tri giá trị quyền sử dụng là chƣa phù hợp.
̀
Chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản là 4.162.804 đồng, anh T và Chị X phải chịu và đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng Chị X đã nộp 2.272.000 đồng, anh T đã nộp 1.890.804 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn Chị X phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn và án phí sơ thẩm trên giá trị tài sản đƣợc chia.
- Bị đơn anh T phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho ông Hùng, bà T và trên giá trị tài sản đƣợc chia, chịu án phí về cấp dƣỡng nuôi con.
- Ông Triệu Phƣơng H và bà Trƣơng Thị T phải liên đới chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất vô hiệu của bị đơn đƣợc Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 157 và các Điều 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ; các Điều Điều 3, 33, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a, b khoản 3, Điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Tô Thanh T về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất đối với ông Triệu Phƣơng H và bà Triệu Thị Thanh X.
1.1 Bản cam kết về việc chuyển nhƣợng một phần diện tích đất ngày 10/10/2018 giữa ông Triệu Phƣơng H và anh Tô Thanh T là vô hiệu.
Hủy vi bằng số 1158/2018/VB-TPL ngày 10/10/2018 tại Văn phòng thừa phát lại Dĩ An.
1.2 Buộc ông Triệu Phƣơng H và bà Trƣơng Thị T giao trả phần đất diện tích 41.1 m2, tọa lạc thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66 tọa lạc khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng (ký hiệu A1 +B trên sơ đồ trích đo địa chính kèm theo) và giao các tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 34.3 m2; gác bê tông diện tích 22.5 m2; cửa sắt + cột sắt diện tích 4 m2; mái che tôn có diện tích 10.5 m2 cho anh Tô Thanh T.
Anh Tô Thanh T có trách nhiệm thanh toán cho ông Triệu Phƣơng H và và bà Trƣơng Thị T tổng số tiền 544.164.750 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Triệu Thị Thanh X về việc tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn với bị đơn anh Tô Thanh T.
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Thanh X đƣợc ly hôn với anh Tô Thanh T (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 22-TP/HT-2017-KH ngày 10/02/2017 do Ủy ban nhân dân phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cấp).
2.2 Về con chung: Anh Tô Thanh T có trách nhiệm giao con chung tên Tô Triệu Phúc T, sinh ngày 03/12/2017 cho chị Triệu Thị Thanh X trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi cháu T 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Thắng đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, anh Tô Thanh T và chị Triệu Thị Thanh X có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2.3 Về tài sản chung:
- Không chấp nhận yêu cầu của chị Triệu Thị Thanh X về việc yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng đối với quyền sử dụng đất diện tích đất ở 73 m2 và đất trồng cây lâu 0.9 m2 thuộc một phần thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66 tọa lạc khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
+ Chấp nhận yêu cầu của chị Triệu Thị Thanh X về việc yêu cầu phân chia tài sản chung đối với các tài sản: 01 Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 62.7 m2; mái che tôn diện tích 12.72 m2; 01 giếng khoan + máy bơm; đồng hồ điện kế chính; hàng rào gạch xây tô diện tích 13.25 m2.
Anh Tô Thanh T đƣợc quyền sở hữu: 01 Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng, diện tích 62.7 m2 gắn liền diện tích đất 73.9 m2, thuộc thửa đất số 4490, tờ bản đồ số 66 tọa lạc khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng (ký hiệu A2 +C trên sơ đồ trích đo địa chính kèm theo) và mái che tôn diện tích 12.72 m2; 01 giếng khoan + máy bơm; đồng hồ điện kế chính; hàng rào gạch xây tô diện tích 13.25 m2. Tổng giá trị tài sản chung anh T nhận bằng hiện vật là 84.408.752 đồng.
Buộc anh Tô Thanh T thanh toán cho chị Triệu Thị Thanh X tổng số tiền là 250.143.752 đồng.
2.4 Về nợ chung: Các đƣơng sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Anh Tô Thanh T phải chịu 29.442.940 (hai mƣơi chín triệu bốn trăm bốn mƣơi hai nghìn chín trăm bốn mƣơi) đồng án phí dân sự sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào tạm ứng án phí anh T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0003623 ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Tô Thanh T còn phải tiếp tục nộp 29.142.940 (hai mƣơi chín triệu một trăm bốn mƣơi hai nghìn chín trăm bốn mƣơi) đồng.
- Chị Triệu Thị Thanh X phải chịu 12.807.187 (mƣời hai triệu tám trăm lẻ bảy nghìn một trăm tám mƣơi bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.800.000 đồng. Chị Triệu Thị Thanh X còn phải tiếp tục nộp 10.007.187 (mƣời triệu không trăm lẻ bảy nghìn một trăm tám mƣơi bảy) đồng.
- Ông Triệu Phƣơng H và bà Trƣơng Thị T phải liên đới chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Chị X phải chịu 2.272.000 đồng (hai triệu hai trăm bảy mƣơi hai nghìn đồng). Anh T phải chịu 1.890.804 (một triệu tám trăm chín mƣơi nghìn tám trăm lẻ bốn) đồng. Anh T và Chị X đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí đã nộp.
5. Các đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |