vanban.org

Bản án 172/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Vũ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172 /2021/HSST.
Ngày: 21/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ

Bà Phan Thị Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy, Cán bộ Tòa án nhân dân

huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Đình Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 232/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2021/HSST-QĐXX ngày 29 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

Phan Vũ L, sinh ngày 16/12/1994 tại tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký HKTT: ấp Cái Nước Ngọt, xã Y, huyện B, tỉnh Kiên Giang. Tạm trú: Khu phố Mỹ Khoan, Thị trấn P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Phan Văn D , (Không rõ năm sinh) và bà Huỳnh Thị N , sinh năm 1964. Bị cáo có vợ tên Lê Thị Kiều T , sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2021. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh Đồng Nai ( bị cáo có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/8/2021, L nhờ một người bạn tên Mốc (chưa rõ nhân thân) mua dùm 300.000đồng ma túy đá để sử dụng. Mốc đã đồng ý và hẹn L khoảng 30 phút sau đến khu Cầu Xéo thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai để lấy ma túy. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày L điều khiển xe mô tô biển số 60C2 – 004.79 (Linh Thuê của chị Trần Nguyễn Nhật Diễm, sinh năm 1981 ngụ tại: Khu Phước Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) đến khu vực thị Trấn Long Thành gặp Mốc. L đưa cho Mốc 300.000đồng, Mốc đưa lại cho L 01 vỏ gói thuốc lá hiệu CARAVEN bên trong có 01 gói nilon chứa ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy đá. L bỏ gói ma túy và nỏ thủy tinh vào hộc đựng đồ phía trước của xe mô tô biển số 60C2 – 004.79 và điều khiển xe trở về phòng trọ của L tại khu phố Mỹ Khoan, thị trấn Hiệp phước. Khi đi đến khu vực bờ kênh thuộc khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai thì bị công an thị trấn Hiệp Phước kiểm tra lập biên bản bắt người người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch giải quyết theo thẩm quyền.

- Căn cứ Kết luận giám định số: 1707/KLGĐ-PC09 ngày 24 tháng 8 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

+ Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong (kí hiệu M1) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,6526 gam, loại: Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau khi giám định là: 0,6118 gam.

- Tang vật tạm giữ:

+ 01 xe moto hiệu Yamaha Mio, biển số 60C2 – 004.79

+ 01 gói nylon hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 3,5x2cm, 01 nỏ thủy tinh; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu CARAVEN.

+ 01 điện thoại di động màu đen hiệu Nokia đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 218/CT.VKS-HS ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phan Vũ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị :

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phan Vũ L từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Phan Vũ L không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Vào ngày 18/8/2021, Phan Vũ L đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng: 0,6526 gam, loại: Methamphetamine tại khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch thì bị Công an thị trấn Hiệp phước bắt quả tang. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Phan Vũ L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm tù. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt .

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết việc tàng trữ sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng; cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Hiện nay, tệ nạn mua bán, tàng trữ sử dụng ma túy diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 nỏ thủy tinh và Ma túy loại: Methamphetamine có khối lượng còn lại sau khi giám định là: 0,6118 gam được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1707/KLGĐ-PC09 có chữ ký ghi họ tên Phan Vũ L và hình dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo Phan Vũ L do không liên quan đến vụ án là phù hợp quy định nên không xem xét.

- Đối với xe moto hiệu Yamaha Mio, biển số 60C2 – 044.79 của chị Trần Nguyễn Nhật Diễm cho Phan Vũ L thuê. Do chị Diễm không biết việc L thuê để vận chuyển ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Diễm là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với người thanh niên tên Mốc (chưa rõ nhân thân) bán ma túy cho Phan Vũ L để sử dụng, do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ, khi có căn cứ đề nghị xử lý sau.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phan Vũ L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Phan Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Phan Vũ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 nỏ thủy tinh và Ma túy loại: Methamphetamine có khối lượng còn lại sau khi giám định là: 0,6118 gam của Phan Vũ L được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1707/KLGĐ-PC09 có chữ ký ghi họ tên Phan Vũ L và hình dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch ).

Về án Phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ.HĐTP ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo Phan Vũ L phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ