vanban.org

Bản án 172/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thường phạm tội "Vi phạm quy định về tham giam giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2020/HSST
Ngày 22/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng và ông Nguyễn Đức Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Phạm Đức Lễ

- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2020/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020, đối với:

Bị cáo TRẦN THỊ T.

Sinh năm: 16/01/1987, tại: Đắk Lắk.

Nơi đăng ký hộ khẩu T trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn S, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; có chồng là Ngô V, sinh năm 1986; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020, hiện đều trú tại thôn 16, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Mạ Văn S (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Mạ Văn Sinh: Bà Nguyễn Thị S. Sinh năm 1973 (là mẹ của anh Mạ Văn S).

Trú tại: Thôn X, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Ngọc H. Sinh năm 1996.

Trú tại: Thôn X, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

Ông Ngô V. Sinh năm 1986.

Trú tại: Thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trần Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 4 giờ 30 phút sáng ngày 14 tháng 10 năm 2019, Trần Thị T, đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số AR158496 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp, điều khiển xe mô tô biển số 47N3-7918 có bật đèn chiếu sáng phía trước, lưu thông trên đường liên xã Hòa Khánh theo hướng từ thôn 16, xã Hòa Khánh đến đường Hồ Chí Minh, thành phố Buôn Ma Thuột. Khi đến nơi giao nhau giữa đường liên xã Hòa Khánh với đường Hồ Chí Minh, thuộc thôn 16, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột (nơi giao nhau không có đèn đường chiếu sáng, không có các trụ đèn tín hiệu giao thông và biển báo hiệu đi theo vòng xuyến; trước khi vào nơi giao nhau trên lề đường liên xã Hòa Khánh có cắm biển báo giao nhau với đường ưu tiên; trước khi vào nơi giao nhau trên lề đường Hồ Chí Minh có cắm biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo chợ và biển báo người đi bộ cắt ngang). Trời lúc này tối, đường vắng, không có mưa, T nhìn thấy xe mô tô biển số 48D1-203.47 do anh Mạ Văn S điều khiển phía sau chở anh Phạm Ngọc H, lưu thông trên phần đường bên phải đường Hồ Chí Minh theo hướng từ trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột về tỉnh Đắk Nông, cách khoảng 20-30m. Lúc này, T không giảm tốc độ nhường đường cho xe mô tô biển số 48D1-203.47 do anh Sinh điều khiển, mà bất ngờ điều khiển xe đi với tốc độ nhanh từ đường liên xã Hòa Khánh ra phần đường bên trái đường Hồ Chí Minh (Hướng từ tỉnh Đắk Nông về Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột). Khi lưu thông đến giữa phần đường bên trái đường Hồ Chí Minh theo hướng đi, thì T đã để phía bên trái bánh trước xe Mô tô biển số 47N3-7918 va chạm vào phía trước đầu xe mô tô biển số 48D1-203.47, do anh Mạ Văn S điều khiển chở anh Phạm Ngọc H, làm xe mô tô biển số 47N3-7918 xoay 180 độ rồi ngã sang phải ở phần đường bên phải đường Hồ Chí Minh theo hướng đi sát vạch kẻ phân chia phần đường, còn xe Mô tô biển số 48D1-203.47 ngã sang trái chà trượt về trước vào mép đường bên trái đường Hồ Chí Minh theo hướng đi xe này khoảng 20m thì mới dừng lại. Hậu quả anh Mạ Văn S tử vong tại chỗ, còn T bị thương tích nhẹ, anh H không bị thương tích gì.

- Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn:

Tại trước trụ điện số 71 nơi giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường liên xã Hòa Khánh, thuộc thôn 16, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Đường Hồ Chí Minh là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 11,00 m được phân chia thành hai phần đường bằng vạch sơn màu Vàng nét đơn đứt quãng, mỗi phần đường rộng 5,50 m được chia thành hai làn đường bằng vạch sơn màu Trắng nét liền và đứt quãng tại nơi giao nhau, làn đường bên phải sát mép đường rộng 2,00 m, làn đường bên trái rộng 3,50 m. Đường liên xã Hòa Khánh hướng từ đường Hồ Chí Minh đến thôn 16, xã Hòa Khánh rộng 6,30 m và đường liên xã Hòa Khánh hướng từ đường Hồ Chí Minh đến đường Tỉnh lộ 2 rộng 4,00 m, không có vạch kẻ đường phân chia phần đường, làn đường. Trên lề đường bên phải đường Hồ Chí Minh trước khi vào nơi giao nhau có cắm biển báo W.224 (Biển báo người đi bộ cắt ngang), biển báo W.207a (Biển báo giao nhau với đường không ưu tiên), biển báo R.442 (Biển báo chợ). Trên lề đường bên trái đường liên xã Hòa Khánh hướng từ thôn 16 đến đường Hồ Chí Minh có cắm biển báo W.208 (Biển báo giao nhau với đường ưu tiên), không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông. Quá trình khám nghiệm chọn mép đường giả định và thực tế bên phải đường Hồ Chí Minh theo hướng từ trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột về tỉnh Đắk Nông, làm mép đường chuẩn. Chọn gốc trụ điện số 71 nơi giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường liên xã Hòa Khánh, thuộc thôn 16, xã Hòa Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, làm mốc cố định.

- Xe mô tô biển số 47N3-7918, ký hiệu (1): Do Trần Thị T điều khiển lưu thông từ đường liên xã Hòa Khánh ra phần đường bên trái đường Hồ Chí Minh rồi chuyển hướng chéo từ bên trái sang bên phải phần đường này theo hướng từ tỉnh Đắk Nông về Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Sau tai nạn xe ngã sang phải, đầu xe quay về hướng Tây Nam, đuôi xe quay về hướng Đông Bắc.

+ Tâm trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 6,10 m.

+ Tâm trục bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 6,30 m.

- Xe mô tô biển số 48D1-203.47(2): Do anh Mạ Văn Sinh điều khiển lưu thông trên phần đường bên phải đường Hồ Chí Minh theo hướng từ Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột về tỉnh Đắk Nông. Sau tai nạn xe ngã sang trái, đầu xe quay về hướng Đông Bắc, đuôi xe quay về hướng Tây Nam.

+ Tâm trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 12,60 m, cách trục bánh trước xe (1) là 21,70 m và cách mốc cố định là 15,20 m.

+ Tâm trục bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 12,70 m.

- Nạn nhân chết tại hiện trường được thân nhân xác định là anh Mạ Văn S, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn 14, xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, ký hiệu (3). Nạn nhân cao 1,70 m chết ở tư thế nằm ngửa duỗi thẳng, đầu quay về hướng Tây, chân quay về hướng Đông, đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 11,30 m và cách trục bánh bánh sau xe (2) là 1,30 m, chân nạn nhân (gót chân trái) cách mép đường chuẩn là 12,10 m.

- Các dấu vết để lại hiện trường:

+ Vết cày xước, ký hiệu (4): Đứt quãng, dài 24,00 m. Đầu vết cách mép đường chuẩn 5,00 m; cuối vết nằm ngay đầu gác chân trước bên trái xe (2) tiếp giáp với mặt đường tại vị trí xe ngã.

+ Vết chà người, ký hiệu (5): Màu xám đen, kích thước (10,60 x 0,10)m. Đầu vết cách mép đường chuẩn là 8,50 m và cách đầu vết (4) là 14,85 m; cuối vết nằm ngay đầu nạn nhân Mạ Văn S tiếp giáp với mặt đường cách mép đường chuẩn là 11,30 m.

+ Vết chà lốp, ký hiệu (6): Màu xám đen, kích thước (0,25 x 0,03)m. Đầu vết cách mép đường chuẩn 3,90 m; cuối vết cách mép đường chuẩn là 3,80 m và cách đầu vết (4) là 4,65 m.

+ Vị trí va chạm giữa xe Mô tô biển số 47N3-7918 (1) với xe mô tô biển số 48D1-203.47 (2) được xác định tương ứng trên mặt đường thuộc phần đường bên phải đường Hồ Chí Minh theo hướng từ Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột về tỉnh Đắk Nông: Cách mép đường chuẩn là 4,90 m, cách cuối vết (6) là 3,20 m, cách đầu vết (4) là 1,50 m, cách trục bánh sau xe (1) là 1,50 m và cách mốc cố định là 14,90 m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 48D1-203.47; 01 xe mô tô biển số 47N3-7918; 01 Giấy phép lái xe, mang tên: Mạ Văn S; 01 Giấy phép lái xe, mang tên Trần Thị T và chụp ảnh minh họa, để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận pháp y tử thi số: 351/T.Th-TTPY, ngày 29/10/2019, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận, nguyên nhân tử vong của anh Mạ Văn S là: Chấn thương sọ não nặng do tai nạn giao thông.

Tại bản cáo trạng số: 165/CT-VKS TP.BMT ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Thị T đã tự nguyện thỏa thuận, bồi T cho gia đình nạn nhân anh Mạ Văn S số tiền 80.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp nạn nhân anh Mạ Văn S là bà Nguyễn Thị S đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi T gì thêm.

- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 48D1-203.47 và 01 Giấy phép lái xe số: 670142002976 cho bà Nguyễn Thị S và trao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 47N3-7918, cho anh Ngô V nhận quản lý, sử dụng.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Thị T thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Khoảng 04 giờ 30 phút sáng ngày 14 tháng 10 năm 2019, Trần Thị T (đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 47N3-7918 đi từ đường liên xã Hòa Khánh (đường không ưu tiên) ra đường Hồ Chí Minh (đường ưu tiên) đã không nhường đường cho xe mô tô biển số 48D1-203.47 do anh Mạ Văn S điều khiển, phía sau chở anh Phạm Ngọc H lưu thông trên đường Hồ Chí Minh, mà bất ngờ điều khiển xe đi với tốc độ nhanh từ đường liên xã Hòa Khánh ra phần đường bên trái đường Hồ Chí Minh (hướng từ tỉnh Đắk Nông về Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột), nên để phía trước, bên trái xe mô tô biển số 47N3-7918 va chạm vào phía trước đầu xe mô tô biển số 48D1-203.47, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả anh Mạ Văn S tử vong.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Trần Thị T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nội dung bản cáo trạng; lời khai của bị cáo, người liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng của vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 30 phút sáng ngày 14 tháng 10 năm 2019, Trần Thị T (đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 47N3-7918 đi từ đường liên xã Hòa Khánh (đường không ưu tiên) ra đường Hồ Chí Minh (đường ưu tiên) đã không nhường đường cho xe mô tô biển số 48D1-203.47 do anh Mạ Văn S điều khiển, phía sau chở anh Phạm Ngọc H lưu thông trên đường Hồ Chí Minh, mà bất ngờ điều khiển xe đi với tốc độ nhanh từ đường liên xã Hòa Khánh ra phần đường bên trái đường Hồ Chí Minh (hướng từ tỉnh Đắk Nông về Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột), nên để phía trước, bên trái xe mô tô biển số 47N3-7918 va chạm vào phía trước đầu xe mô tô biển số 48D1-203.47, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả anh Mạ Văn S tử vong.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ đường bộ năm 2008.

Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn trên hoàn toàn do lỗi của bị cáo. Vì vậy,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Làm chết người.

…………”.

Xét tính chất của vụ án, xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có đủ nhận thức, đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1, bị cáo biết khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không tuân thủ luật giao thông đường bộ, coi T sức khỏe, tính mạng của người khác nên vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 14 tháng 10 năm 2019, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 47N3-7918 đi từ đường liên xã Hòa Khánh (đường không ưu tiên) ra đường Hồ Chí Minh (đường ưu tiên) đã không nhường đường cho xe mô tô biển số 48D1-203.47 do anh Mạ Văn S điều khiển, phía sau chở anh Phạm Ngọc H lưu thông trên đường Hồ Chí Minh, mà bất ngờ điều khiển xe đi với tốc độ nhanh từ đường liên xã Hòa Khánh ra phần đường bên trái đường Hồ Chí Minh (hướng từ tỉnh Đắk Nông về Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột), nên để phía trước, bên trái xe mô tô biển số 47N3-7918 va chạm vào phía trước đầu xe mô tô biển số 48D1-203.47, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả anh Mạ Văn S tử vong.

Hành vi của bị cáo không những vi phạm luật giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng của người khác mà còn làm mất trật tự an ninh tại địa phương, nhất là trong tình trạng tai nạn giao thông đang là nỗi nhức nhối của từng gia đình và toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, xét về nhân thân, bị cáo là công dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà khai báo và thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 80.000.000 đồng và đã được bà Nguyễn Thị S (mẹ của anh Mạ Văn S) làm đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm truy cứu hình sự cho bị cáo; bị cáo phạm tội khi đang có thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét khi lượng hình để thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ (sinh ngày 05/02/2020), vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, nên cần chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; 589; 591 Bộ luật dân sự:

Chấp nhận việc bị cáo Trần Thị T đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho gia đình nạn nhân anh Mạ Văn S số tiền 80.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp nạn nhân anh Mạ Văn S là bà Nguyễn Thị S đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đặt ra để xem xét.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 48D1-203.47 và 01 Giấy phép lái xe số: 670142002976 cho bà Nguyễn Thị S và trao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 47N3-7918, cho anh Ngô V nhận quản lý, sử dụng.

+ Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1, số AR158496 mang tên Trần Thị T, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/02/2011.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự;

[1] Tuyên bố:

Bị cáo Trần Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt Trần Thị T: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thị T cho Uỷ ban nhân dân xã Hoà Khánh, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo T trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Thị T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Trần Thị T phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Trần Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; 589; 591 Bộ luật dân sự:

Chấp nhận việc bị cáo Trần Thị T đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho gia đình nạn nhân anh Mạ Văn S số tiền 80.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp nạn nhân anh Mạ Văn S là bà Nguyễn Thị S đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[3] Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 48D1-203.47 và 01 Giấy phép lái xe số: 670142002976 cho bà Nguyễn Thị S và trao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 47N3-7918, cho anh Ngô V nhận quản lý, sử dụng.

(Đặc điểm như trong Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu ngày 13/02/2020 và ngày 21/12/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột với ông Ngô V; và bà Nguyễn Thị S).

+ Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1, số AR158496 mang tên Trần Thị T, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/02/2011.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ