- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phước T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Phước T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2019.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 172/2019/HSST Ngày: 16/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Hoạch
2. Ông Ngô Văn Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai:
Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2019/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Lê Phước T, sinh năm 1994 tại Cần Thơ; Nơi cư trú: Số A, ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh P, sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1972; Bị cáo chưa có vợ con; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Có 02, cụ thể: Ngày 15/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án 28)- Chấp hành án xong ngày 22/8/2013. Ngày 18/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án 143)- Chấp hành án xong ngày 06/10/2017. Tiền sự: Không;
Bị bắt quả tang ngày 24/6/2019 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom (Có mặt).
- Người làm chứng:
1/. Anh Lê Văn H, sinh năm 1970. (Vắng mặt).
2/. Anh Võ H, sinh năm 1979. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, tại ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện Trảng Bom phối hợp với Công an xã Đồi 61 kiểm tra phát hiện đối tượng Lê Phước T đang cất dấu 01 gói ma túy trong thắt lưng quần. Tiến hành kiểm tra phòng ngủ của T phát hiện phía sau tờ lịch treo tường có 01 góí ma túy. Công an huyện Trảng Bom đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong thắt lưng quần Lê Phước T (ký hiệu M1); 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong phòng ngủ của T (ký hiệu M2); 01 cân tiểu ly màu bạc; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, có sim số 0937.571.562 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202, có sim số 0373.016.027.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại bản kết luận giám định số: 606/PC09-GĐMT ngày 10/7/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2090 gam, loại: Methamphetamine.
+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5748 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 28/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Phước T để điều tra. Quá trình điều tra T khai nhận: T là đối tượng không có việc làm ổn định, đã có 02 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích. Vào đầu năm 2019 T lên khu vực ngã TAS, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, có sim số 0937.571.562 liên lạc với đối tượng tên T (chưa rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy giá 1.000.000 đồng về phân nhỏ ra bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy kiếm lời. Từ đầu năm 2019 đến tháng 6/2019 T đã bán ma túy cho Võ H (tên thường gọi C) ngụ tại ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai được 03 lần, cụ thể:
Lần thứ 1: Khoảng đầu năm 2019 T bán cho H 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại hàng rào bên hông nhà H.
Lần thứ 2: Khoảng tháng 5/2019 (không nhớ ngày) T bán cho H 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại hàng rào bên hông nhà H.
Lần thứ 3: Khoảng tháng 6/2019 (không nhớ ngày) T bán cho H 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại hàng rào bên hông nhà H.
Ngoài ra,T còn bán ma túy cho Nguyễn Văn D ở ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai 01 gói ma túy giá 200.000 đồng (không nhớ rõ thời gian).
Đến 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, T đang ở nhà thì có Nguyễn Tuấn C gọi điện thoại vào thoại di động hiệu Nokia 1202, có sim số 0373.016.027 của T hỏi mua 200.000 đồng ma túy, Tphân ra 01 gói ma túy nhỏ cất giấu vào thắt lưng quần để đem đi bán cho C. Số ma túy còn lại T cất giấu phía sau tờ lịch treo tường trong phòng ngủ. Khi T vừa đi ra khỏi nhà khoảng 50 m thì bị Công an huyện Trảng Bom phối hợp với Công an xã Đồi 61 bắt quả tang.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Phước T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 195/CT-VKS-TB ngày 26/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Phước T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Phước T với mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
Xử lý vật chứng:
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
+ Đối với 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định vụ số: 606/PC09-GĐMT ngày 10/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma tuý và một cân tiểu ly màu bạc đề nghị Toà tuyên tịch thu tiêu huỷ;
+ Đối với 01 (một) ĐTDĐ Iphone 6 màu vàng, có sim số 0937.571.562 của và 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia 1202, có sim số 0373.016.027 là công cụ, phương tiện mà Thành sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Toà tuyên tịch thu sung công.
Bị cáo Lê Phước T không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và từ chối nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 01), Kết luận giám định (Bút lục số 10). Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, tại ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai, Lê Phước T đã đem 0,2090 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán cho Nguyễn Tuấn C thì bị Công an huyện Trảng Bom phối hợp với Công an xã Đồi 61 bắt quả tang. Tiến hành kiểm tra phòng ngủ của T thu giữ 0,5748 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Từ đầu năm 2019 đến tháng 6/2019 tại ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai T đã bán ma túy cho Võ H 03 lần, mỗi lần 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, T còn bán ma túy cho Nguyễn Văn D ở ấp TĐ, xã A, huyện TB, tỉnh Đồng Nai 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng (không nhớ thời gian cụ thể). Do đó, Hội đồng xét xử có đủ yếu tố kết luận bị cáo Lê Phước T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác, đe doạ đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và cũng để răn đe phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu và có 02 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định vụ số: 606/PC09-GĐMT ngày 10/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma tuý và một cân tiểu ly màu bạc, 02 sim điện thoại số 0937.571.562 - 0373.016.027 (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom)
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Đối với 01 (một) ĐTDĐ Iphone 6 màu vàng và 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia 1202 là công cụ, phương tiện mà Thành sử dụng vào việc phạm tội (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
Đối với đối tượng bán ma túy cho T ở khu vực ngã TAS, thành phố Hồ Chí Minh, do T không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Trảng Bom không có cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với Võ H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Công an xã Đồi 61, huyện Trảng Bom đã ra Quyết định xử phạt hành chính và giao hồ sơ cho địa phương quản lý theo quy định.
Đối với Nguyễn Văn D và Nguyễn Tuấn C đã bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Trảng Bom tách ra để điều tra, xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Phước T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Phước T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định vụ số: 606/PC09-GĐMT ngày 10/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma tuý và một cân tiểu ly màu bạc, 02 sim điện thoại số 0937.571.562 - 0373.016.027 (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom)
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Đối với 01 (một) ĐTDĐ Iphone 6 màu vàng và 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia 1202 là công cụ, phương tiện mà Thành sử dụng vào việc phạm tội (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Phước T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - THADS huyện Trảng Bom; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Hồng Ngọc |