vanban.org

Bản án 172/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Kim Ngọc D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "249. Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Kim Ngọc D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 172/2018/HSST
Ngày: 13/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T- TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Thị Hoa

Các hội thẩm nhân dân:

1 Ông Lê Anh Tuấn

2. Bà Lê Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 272/2018/HSST ngày 13/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176 /2018/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Kim Ngọc D- Sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 9, xã T, thành phố Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa 6/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Kim Ngọc S và bà: Dương Thị H; vợ: Mai Thị T; có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam ngày 25/4/2018. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h 30’ ngày 09/4/2018 tại khu vực cầu mới Đông H, phường Đ, thành phố T, Công an phường Đ bắt quả tang Kim Ngọc D đang tàng trữ một gói ma túy, trọng lượng 0,377g. D khai số ma túy trên D mua để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra D khai nhận gói ma túy mà cơ quan điều tra thu giữ của D do D mua của một người nam thanh niên khoảng 30 tuổi đi xe EXCITER không BKS, Dinh mua của người này một gói ma túy với giá 300.000đ. vào khoảng 16h cùng ngày tại khu vực đường dân sinh, cạnh sân bóng Viettel, phường Đ, thành phố T. Khi D đang tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Đ kiểm tra thu giữ. Ngoài thu giữ của D 01 giá ma túy đá còn tạm giữ của D 01 xe mô tô Weve Alpha BKS 36B2-465.23 là phương tiện của D dùng để đi mua ma túy và 01 điện thoại Nokia loại 1280 đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 788 /MT- PC 45 ngày 12/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,377g loại Methamphetamine.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Kim Ngọc D, D khai không biết tên và địa chỉ cũng như không biết biển kiểm soát xe máy của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.

Đối với 01 xe môtô Weve Alpha BKS 36B2-465.23, Cơ quan công an đã tạm giữ của Kim Ngọc D qua điều tra xác minh nguồn gốc là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Kim Duy T sinh năm 1959 ở thôn 6 Thiệu Dương, thành phố T, Hiện ông T đi làm ăn xa nên chiếc xe được anh Kim Duy T là con trai ông T quản lý sử dụng, việc D sử dụng làm phương tiện phạm tội anh T không biết nên cơ quan điều tra đã trả cho anh Kim Duy T.

Cáo trạng số 182/CT-VKSTP ngày 12/7/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Kim Ngọc Dinh về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điểm a khoản 2 Điều 106 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Thanh Hóa, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Do nghiện ma túy, khoảng 16h ngày 09/4/2018 D điều khiển xe môtô Weve Alpha BKS 36B2-465.23 đi xuống khu vực đường dân sinh, phường Đ, thành phố T mua của một người thanh niên khoảng 30 tuổi không rõ tên tuổi địa chỉ 01 gói ma túy với giá 300.000đ mục đích để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Đ, thành phố T kiểm tra phát hiện bắt quả tang D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Kim Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Kim Ngọc D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

.Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

Nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, nhưng lại là đối tượng nghiện ma túy, phạm loại tội nghiêm trọng. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm, tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, qui định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo mua Hêrôin nhằm mục đích sử dụng, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số Hêrôin thu được của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 điện thoại di động đã cũ hiệu Nokia, model: 1280; Imel: 356338/05/334119/8, cần áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy và sung công quĩ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Kim Ngọc D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Kim Ngọc D: 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2018.

Vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy được niêm phong tại phong bì và có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, tịch thu sung công quĩ nhà nước 01 điện thoại di động đã cũ hiệu Nokia, model: 1280; Imel: 356338/05/334119/8.Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 163 THA ngày 12/7/2018.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ