- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lâm P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm P (tên gọi khác là B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2018/HS-ST Ngày 06/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hạnh.
2. Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 06/7/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2018/TLST-HS ngày 12/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2018/QĐXXST-HS ngày 26/6/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Lâm P;
Tên gọi khác: B;
Sinh ngày: 18/12/1998
Tại: tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Đường T, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 9/12;
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông: Nguyễn Văn P , sinh năm 1973. Hiện trú tại: Xã B, thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên; con bà: Đỗ Thị Hồng H, sinh năm: 1978. Hiện trú tại: Đường T, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2018. Hiện bị cáo đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Trịnh Văn A; Đi ̣a chỉ: phường T, Thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tinh̉ Đắk Lắk (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Minh C; Đi ̣a chỉ: phường T, Thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tinh̉ Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyễn Lâm P là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 15h30’ ngày 06/4/2018, P mượn xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu đỏ (không rõ biển số) của bạn tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nói đi công việc thì N đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô đến khu vục nghĩa địa thuộc đường P, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột gặp đối tượng tên B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 gói ma tuý đá với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma tuý, P cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về cuối hẻm số193 đường N, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột để trả xe mô tô cho N. Sau đó, P một mình đi bộ ra đầu hẻm số 193 đường N thì bị Công an phường T, thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang. Thu giữ trong người P 01 gói nylon màu xanh, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng P khai là ma tuý đá, đã niêm phong theo quy định; số tiền 20.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Gionee, màu vàng, không có nắp đậy phía sau.
Tại bản kết luận giám định số: 376/GĐMT-PC54 ngày 10/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon màu xanh thu giữ của Nguyễn Lâm P được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại ma tuý Methamphetamine, khối lượng 0,2033 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Lâm P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Ta ̣i bản cáo tra ̣ng số: 172/CT-VKS ngày 11/6/2018 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đăk Lăk truy tố bi ̣ cáo Nguyễn Lâm P về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự
̀ năm 2015;
Ta ̣i phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t vẫn giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lâm P và đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm P pha ̣m tô ̣i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 2015 và áp du ̣ng điểm s khoản
̀
1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 để xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Lâm P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù
*Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy 0,1850 gam Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 376/GĐMT-PC54 ngày 10/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án;
- Đối với: Số tiền 20.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Gionee màu vàng, không có nắp đậy phía sau. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Lâm P, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lâm P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai nhận tội của bi ̣ cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với người biết sự việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 06/4/2018, bị cáo Nguyễn Lâm P đã mua của một người nam giới tên B (không rõ nhân thân và lai lịch) 01 gói ma túy đá với giá 100.000 đồng. Bị cáo nhận lấy và cất vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc rồi đi về hẻm số 193 đường N, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột thì bị công an phường T phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang. Ta ̣i kết luâ ̣n giám đi ̣nh số: 376/GĐMT-PC54 ngày 10/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2033 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1850 gam đã được niêm phong.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Lâm P đa phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất̃ ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó bị Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đăk Lăk truy tố bi ̣ cáo Nguyễn Lâm P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 2015 là có căn cứ pháp luâ ̣t.
̀
* Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,……;
b,……;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam....”
. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đủ điều kiện để nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Người nghiện chất ma túy là tự tàn phá sức khỏe, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS đang là vấn nạn của nhân loại. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, biết ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có bà ngoại tên là Trần Thị T được Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy khi lượng hình, cần được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt theo đúng quy định của pháp luật nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
Đối với nguồn ma túy thu giữ được, bị cáo Nguyễn Lâm P khai nhận mua của đối tượng nam giới tên B (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch đối tượng nhưng chưa có kết quả nên tách hành vi của đối tượng B ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với người nam giới tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người cho bị cáo P mượn xe mô tô hiệu Yamaha Sirus, màu đỏ (không rõ biển số) đi mua ma tuý. Quá trình điều tra P khai nhận không nói cho N biết về việc sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội, P không nhớ biển số xe mô tô cũng như không nhớ đặc điểm nhận dạng của N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không có cơ sở đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy 0,1850 gam Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 376/GĐMT-PC54 ngày 10/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án;
- Đối với: Số tiền 20.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Gionee, màu vàng, không có nắp đậy phía sau. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Lâm P, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.
(Đặc điểm, kích thước theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk).
Xét trong quá trình điều tra, truy tố. Điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng, tiến hành truy tìm, thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường cũng như lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về án phi: Bi ̣ cáo Nguyễn Lâm P phải chi ̣u án phi hình sự sơ thẩm.
́
́
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm P (tên gọi khác là B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lâm P (tên gọi khác là B) 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, ta ̣m giam ngày 06/4/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015
- Tịch thu, tiêu hủy 0,1850 gam Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 376/GĐMT-PC54 ngày 10/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án;
- Đối với: Số tiền 20.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Gionee, màu vàng, không có nắp đậy phía sau. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Lâm P, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.
(Đặc điểm, kích thước theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Lâm P (tên gọi khác B) phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND TP.BMT; - Công an TP.BMT; - CCTHADS TP.BMT; - THA phạt tù (để thi hành) ; - Sở tư pháp tỉnh ĐăkLăk; - Nhà tạm giữ Công an TP.BMT; - Bị cáo; - Các đương sự - Lưu: HS, VP . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thành |