- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà văn Trường tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 172/2018/HSST Ngày 13 tháng 11 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thành Vân
2. Bà Lò Thị Thành
- Thư ký phiên toà:
Bà Hà Thị Điệp - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 181/2018/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 180/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T - Sinh ngày 30/7/1986; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: bản P, xã C, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 11/12; Đảng, đoàn: Không; Con ông: Hà Văn S ( đã chết ), con bà: Hà Thị C; Bị cáo có vợ là Lƣờng Thị T và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 29/7/2018 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi liên quan:
1. Lƣờng Văn P - Sinh năm 1981 Địa chỉ: Bản L, xã M, huyện S, Sơn La - Có mặt.
2. Chị Lƣờng Thị T - Sinh năm 1988 Địa chỉ: Bản P, xã S, huyện S, Sơn La - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 19h00’ ngày 29/7/2018 Tổ công tác Đồn Công an Mƣờng Lầm đang làm nhiệm vụ tại bản Nà Sèo, xã Nậm Ty phát hiện bắt quả tang Hà Văn T có hành vi tàng trữ chất ma túy. Vật chứng thu giữ đƣợc gồm 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng ( theo T khai nhận là Heroine), ngoài ra, còn tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α biển kiểm soát 26B1-745.87, số tiền 3.390.000đ.
Ngày 02/8/2018, tại Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La đã tiến̉
̀
hành mở niêm phong, cân tịnh trích mẫu vật chứng giám định. Kết quả: Số chất bột màu trắng chứa trong gói nilon màu xanh thu giữ của T có khối lƣợng 0,52 gam, đã trích 0,09 gam sử dụng làm mẫu giám định ký hiệu T1, vật chứng còn lại 0,43 gam ký hiệu T.
Tại kết luận giám định số 936 ngày 05/8/2018 của Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sƣ̣
̀ Công an tinh Sơn La kết luận: “Mẫu trích để gửi giám định ký hiệu T là ma túy,̉ loại Heroine, khối lƣợng là 0,09 gam.Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 0,52 gam loại Heroine”.
Quá trình điều tra Hà Văn T khai nhận: Khoảng 18h ngày 29/7/2018 T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26B1-745.87 từ nhà ở bản P, xã C, huyện S đến bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã để tìm mua quả nhãn về làm Long nhãn; đến nơi thì gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đƣờng trong bản, T dừng xe lại hỏi mua quả nhãn nhƣng ngƣời này bảo nhãn chƣa chín, T nảy sinh ý định mua Heroine về sử dụng nên đã hỏi mua Heroine, ngƣời đàn ông này đã bán cho T 01 gói Heroine với giá 200.000đ, T cầm gói Heroine ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe về. Khi đi đƣợc khoảng 3km thì bị tổ công tác Đồn công an Mƣờng Lầm kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng và tài sản nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 143/CT-VKSSM ngày 01 tháng 11 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Hà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 18
- 22 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan, trả lại cho anh Lƣờng Văn P chiếc xe mô tô, trả lại cho chị Lƣờng Thị T số tiền 3.390.000đ. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 19h00’ ngày 29/7/2018, bắt quả tang Hà Văn T có hành vi cất dấu chất ma túy;
- Vật chứng bị thu giữ gồm 01gói nilon có chứa chất bột màu trắng; Kết luận giám định số 936 ngày 05/8/2018 của Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sƣ̣ Công an tinh̉
̀ Sơn La, kết luận số chất bột màu trắng đã thu của bị cáo, đã kết luận: “Mẫu trích để gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Heroine, khối lƣợng là 0,09 gam.Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 0,52 gam loại Heroine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.
Tại phiên toà bị cáo Hà Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo cũng khẳng định bị cáo mua ma túy về chỉ với mục đích để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/7/2018 Hà Văn T đến bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã mua đƣợc 01 gói Heroine của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết mục đích mang về nhà sử dụng, trên đƣờng về thì bị tổ công tác Đồn công an Mƣờng Lầm kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Số ma túy bị thu giữ là 0,52gam Heroine.
Hành vi tàng trữ 0,52gam Heroine với mục đích để bản thân sử dụng của Hà Văn Tđã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lƣợng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức án phù hợp nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy và vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B1-754.87 là xe thuộc sở hữu của anh Lƣờng Văn P, anh P đã cho vợ chồng bị cáo mƣợn ( vợ bị cáo là em anh P ), khi bị cáo mang đi làm phƣơng tiện thực hiện tội phạm anh Phong không biết nên cần trả lại anh P; đối với số tiền 3.390.000đ là tiền chung của vợ chồng bị cáo cần xem xét trả lại cho vợ bị cáo.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông ở bản Nà Sèo, xã Nậm Ty bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết tên, tuổi nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự :
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 18 ( mƣời tám ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giam là ngày 29/7/2018.
2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,43gam Heroine, 01(một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 01(một) vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu ( đƣợc đựng trong phong bì còn nguyên niêm phong ).
- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan, anh Lƣờng Văn P 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B1-754.87, số khung 578938, số máy 3679079, xe đầy đủ gƣơng chiếu hậu.
- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan, chị Lƣờng Thị T số tiền 3.390.000đ ( ba triệu ba trăm chín mƣơi ngàn đồng ).
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).
3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 13/11/2018 ./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo ; -Ngƣời có qllq; - Lƣu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |