vanban.org

Bản án 172/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Hứa Thị Kiều Diễm và Anh Huỳnh Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con chung Huỳnh Tuấn Kiệt – sinh ngày 10-01-2014 cho Chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Kiệt mỗi tháng 695.000 đồng, liên tục hàng tháng cho đến khi cháu Kiệt đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án. Anh T không trực ti…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Hứa Thị Kiều Diễm và Anh Huỳnh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2018/HNGĐ-ST
Ngày 01 - 8 - 2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Loan

Ông Nuyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 01 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 379/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hứa Thị Kiều D – sinh năm 1989 (có mặt)

Trú tại: khóm A, phường LT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T – sinh năm 1986 (vắng mặt)

Trú tại: ấp B, xã Khánh BD, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04-6-2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Chị Hứa Thị Kiều D trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2012 Chị D và Huỳnh Văn Tòa tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PA, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau và không tìm được điểm chung trong cuộc sống. Cả hai người đã ly thân hơn 01 năm nay. Gia đình hai bên có hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn nên Chị D yêu cầu ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: Chị D và anh T có 01 người con chung Huỳnh Tuấn Kiệt – sinh ngày 10-01-2014, đang sống với Chị D. Khi ly hôn, Chị D yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho Anh Huỳnh Văn T đúng theo quy định pháp luật nhưng anh T không có văn bản thể hiện ý kiến và cũng không có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Huỳnh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về hôn nhân: Chị Hứa Thị Kiều D và Anh Huỳnh Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo Chị D trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau và không tìm được điểm chung trong cuộc sống. Cả hai người đã ly thân hơn 01 năm nay mà không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Về phía anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Điều đó cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm cùng Chị D. Tại phiên tòa, Chị D kiên quyết ly hôn với anh T. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa Chị D và anh T không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị Hứa Thị Kiều D được ly hôn với Anh Huỳnh Văn T.

[3] Về nuôi con chung: Chị D và anh T có 01 người con chung Huỳnh Tuấn Kiệt – sinh ngày 10-01-2014, đang sống với Chị D. Khi ly hôn, Chị D yêu cầu được nuôi con. Đối với anh T đã nhận được các văn bản của Tòa án nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Do đó Hội đồng xét xử giao cháu Kiệt cho Chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, Chị D yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Chị D, buộc anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Tuấn Kiệt mỗi tháng 695.000 đồng, liên tục hàng tháng cho đến khi cháu Kiệt đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về chia tài sản và nợ chung: Chị D xác định không có.

[5] Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Hứa Thị Kiều Diễm và Anh Huỳnh Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Huỳnh Tuấn Kiệt – sinh ngày 10-01-2014 cho Chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Kiệt mỗi tháng 695.000 đồng, liên tục hàng tháng cho đến khi cháu Kiệt đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về chia tài sản và nợ chung: Chị D xác định không có.

4. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 04-6-2018, Chị D đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008239 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ