vanban.org

Bản án 1710/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn H A (Giấy chứng nhận kết hôn số 30, do Ủy ban nhân dân Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/02/2016 hết hiệu lực).

Về con chung: Giao 02 con Nguyễn Phạm Hoàng H, sinh ngày 11/8/2016 và Nguyễn Phạm Hoàng Q, sinh ngày 19/12/2019 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông H A cấp dưỡng nuôi con. Ông H A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mỹ D và Nguyễn Hoàng A"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn H A (Giấy chứng nhận kết hôn số 30, do Ủy ban nhân dân Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/02/2016 hết hiệu lực).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1710/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-11-2022
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

2. Bà Lê Thị Chí

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên, Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 978/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 447/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 386/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Khu phố S, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn H A, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Số L, đường L, Phường N, quận G, Tp. Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ D trình bày:

Bà D và ông H A tự nguyện chung sống với nhau năm 2016 và được Ủy ban nhân dân Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30, ngày 29/02/2016. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, về sau vợ chồng có sự bất đồng về tính cách và quan điểm sống nên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nguyên nhân do ông H A sống không có trách nhiệm với gia đình và còn nghiện ma túy. Bà D đã nhiều lần cho cơ hội, cảm hóa để mong ông H A thay đổi nhưng không có kết quả. Nay bà D và ông H A đã sống ly thân được 04 năm. Trong khoảng thời gian sống ly thân, bà D và ông H A không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bà D đã đưa các con về Bình Thuận sinh sống và một mình bà phải gồng gánh để nuôi con. Nay bà D xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H A

Về con chung: Bà D và ông H A có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Hoàng H, sinh ngày 11/8/2016 và Nguyễn Phạm Hoàng Q, sinh ngày 19/12/2019. Bà D yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu ông H A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H A để triệu tập ông đến Tòa để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D nhưng ông H A không đến Tòa, không cung cấp chứng cứ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của bà D. Ông H A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa

Nguyên đơn: Bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Bị đơn: ông H A vắng mặt

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H A, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông H A có nơi cư trú tại quận Gò Vấp, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

- Về người tham gia tố tụng:

Ông H A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông H A.

Bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, nên được Tòa án chấp nhận xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D:

Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà D và ông H A là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Bà D xin ly hôn với ông H A vì nhận thấy mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Năm 2021 bà D đã từng nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án, nhưng sau đó bà D lại rút đơn để gia đình có cơ hội đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy từ sau khi vụ án được thụ lý và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập ông H A đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông H A vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông H A không có trách nhiệm đối với hôn nhân của mình, không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông H A.

Xét yêu cầu nuôi con của bà D

Bà D và ông H A có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Hoàng Hải, sinh ngày 11/8/2016 và Nguyễn Phạm Hoàng Quân, sinh ngày 19/12/2019. Mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H A về con chung nhưng xét thấy hai con hiện nay đang do bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên việc giao con cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, bà D yêu cầu trực tiếp nuôi con là có cơ sở để chấp nhận. Xét việc bà D không yêu cầu ông H A cấp dưỡng nuôi con là ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Do bà D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn H A (Giấy chứng nhận kết hôn số 30, do Ủy ban nhân dân Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/02/2016 hết hiệu lực).

2. Về con chung: Giao 02 con Nguyễn Phạm Hoàng H, sinh ngày 11/8/2016 và Nguyễn Phạm Hoàng Q, sinh ngày 19/12/2019 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông H A cấp dưỡng nuôi con.

Ông H A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

3. Về tài sản chung: Không xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà D phải chịu án phí nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0048718 ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: Bà D và ông H A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ