vanban.org

Bản án 171/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về con chung: Giao cháu Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013 cho bà Thị Mỹ X tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Trương Văn H được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về con chung: Giao cháu Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013 cho bà Thị Mỹ X tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2026.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vũ.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 -An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 11/2026/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 176/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Thị Mỹ X - sinh năm 1994, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: Ông Trương Văn H - sinh năm 1991, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/12/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Thị Mỹ X như sau:

Bà và ông Trương Văn H cưới nhau từ năm 2011, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 19/8/2013.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chồng bà thường xuyên ăn chơi, cờ bạc nên phát sinh nợ nần nhiều lần, bà phải đứng ra trả cho người ta và phải bán hết tài sản, ông H còn có quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, không thể hòa hợp được. Từ tháng 3 năm 2025 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Trương Văn H nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Văn H.

Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 01 người con chung tên Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Trương Văn H.

Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013 và không yêu cầu ông Trương Văn H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Văn H đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Trương Văn H không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Trương Văn H.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tại phiên tòa: Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Thị Mỹ X được ly hôn với ông Trương Văn H. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013 cho bà Thị Mỹ X tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Thị Mỹ X và ông Trương Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Ông Trương Văn H là bị đơn trong vụ án, ông Trương Văn H có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Trương Văn H vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Trương Văn H vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Trương Văn H.

Bà Thị Mỹ X có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Thị Mỹ X không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử cũng như nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Thị Mỹ X. [2] Về hôn nhân: Bà Thị Mỹ X và ông Trương Văn H cưới nhau vào năm 2011, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113/2013, ngày 19/8/2013, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Thị Mỹ X và ông Trương Văn H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. [3] Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Thị Mỹ X và ông Trương Văn H là hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc khoảng 05 năm và có 01 người con chung nhưng vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Thị Mỹ X cho rằng do chồng bà thường xuyên ăn chơi, cờ bạc nên phát sinh nợ nần nhiều lần, bà phải đứng ra trả cho người ta và phải bán hết tài sản, ông H còn có quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, không thể hòa hợp được. Từ tháng 3 năm 2025 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân. Ngày 20/3/2026 và ngày 07/4/2026, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Trương Văn H vắng mặt. Xét thấy, vợ chồng ông bà đã ly thân tính đến ngày xét xử đã hơn 01 năm, trong thời gian ly thân bà X và ông Trương Văn H không còn liên lạc với nhau, khi Tòa án mời ông Trương Văn H đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Trương Văn H không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Thị Mỹ X cương quyết xin ly hôn với ông Trương Văn H và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Trương Văn H, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thị Mỹ X.

Về con chung: Bà Thị Mỹ X và ông Trương Văn H có 01 người con chung tên Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013, hiện nay bà Thị Mỹ X đang nuôi dưỡng.

Ông Trương Văn H không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Thị Mỹ X xin nuôi con chung tên Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013 và cháu T có nguyện vọng sống chung với mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Thị Mỹ X.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thị Mỹ X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thị Mỹ X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Thị Mỹ X phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 129, ngày 10/01/2026, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025. Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. 1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Mỹ X. Về hôn nhân: Xử cho bà Thị Mỹ X ly hôn với ông Trương Văn H.

Về con chung: Giao cháu Trương Đình T – sinh ngày 31/01/2013 cho bà Thị Mỹ X tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Trương Văn H được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thị Mỹ X phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 129, ngày 10/01/2026, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. 3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ