- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc Bản án số: 171/2025/DS-ST Ngày 09/6/2025 Về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Huỳnh Đệ;
2. Ông Huỳnh Lý Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09tháng 62025tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số 341/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452025XXST-DS ngày 09/4/2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 462025 ngày 09/5/2025giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S, địa chỉ: 2 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Trường T - là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 1882/2024/UQ-TT.XLN ngày 22/10/2024); xin vắng mặt;
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1972, địa chỉ: B đường A B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Bản tự khai và các Biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 16/11/2022, ông Lê Thanh P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 50,000,000 vnđ với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.77%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông P1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 119,758,195 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông P1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 73,894,494 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông P1 vẫn không có thiện chí trả nợ.
Do ông P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 11/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 52.144.831 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 09/6/2025, ông P1 còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc: 52.144.831 đồng
- Lãi quá hạn: 37.211.856 đồng
Tổng cộng: 89.356.687 đồng (T1 mươi chín triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi bảy đồng)
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 52.144.831 đồng với lãi suất quá hạn là 4.155%/tháng (2.77% x 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến ngày ông P1 thanh toán tiếp theo và lãi sẽ được tiếp tục phát sinh trên dư nợ gốc còn lại cho đến khi ông P1 thanh toán hết nợ gốc.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông P1, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông P1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Lê Thanh P phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/06/2025 là 89.356.687 đồng (T1 mươi chín triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi bảy đồng) trong đó: Nợ gốc là 52.144.831 đồng và lãi quá hạn 37.211.856 đồng
Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 10/06/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đối với bị đơn: Theo kết quả xác minh của Công an P2, Quận A thì ông Lê Thanh P, sinh năm 1972 có hộ khẩu thường trú tại 21 Đường A B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Tuy nhiên, Thẩm phán vẫn chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý cho bị đơn và thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền khoản thẻ tín dụng tính đến ngày 09/6/2025 là 89.356.687 đồng (T1 mươi chín triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, sáu trăm tám mươi bảy đồng) trong đó: Nợ gốc 52.144.831 đồng và lãi quá hạn 37.211.856 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 10/06/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện ông Lê Thanh P về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Ông P hiện đang cư trú tại Quận A. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành tống đạt, triệu tập hợp lệ ông P: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P vắng mặt.
Ngày 09/4/2025, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Do vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng ông P vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông P đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Về yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa Ngân hàng và ông Lê Thanh P có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 16/11/2022. Theo đó việc thực hiện giao dịch trên là do các bên hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật. Do đó, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông P đã giao dịch tổng số tiền 119.758.195 đồng, ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 73.894.494 đồng. Sau đó ông P đã không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng nên ngày 11/01/2024 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ của ông P sang nợ quá hạn.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn”, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 52.144.831 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
Căn cứ vào Điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S quy định: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng… Khi vi phạm xảy ra, chủ thể hiểu và đồng ý rằng S1 có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: tạm ngưng hoặc chấm dứt sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ dư nợ, áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S1….”. Và căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật’’ và tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N cũng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này”.
Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính đến ngày 09/6/2025 là 37.211.856 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Lê Thanh P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn là lãi là 89.356.687 đồng (T1 mươi chín triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi bảy đồng).
Ông P còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng đã ký kết.
Xét về quan điểm giải quyết của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng không phải chịu án phí và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Ông P phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
2. Buộc ông Lê Thanh P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền gốc là lãi tạm tính đến ngày 09/6/2025 là 89.356.687 đồng (tám mươi chín triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi bảy đồng); trong đó: Nợ gốc: 52.0144.831 đồng và lãi quá hạn: 37.211.856 đồng; trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 10/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông P còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 16/11/2022.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh P phải chịu là 4.467.834 đồng (bốn triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng).
H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.759.754 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0050183 ngày 26/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND Quận 11, Tp.HCM; - Chi cục THADS Quận 11, Tp.HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ánh Loan |