- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN -------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2022/HS-ST Ngày: 21 - 12 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thị Mỹ Dung;
Ông Dương Việt Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2022/QĐXXST-QĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Nông Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày:18/01/1978, nơi sinh: tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã H1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày, tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; con ông: Nông Văn V (đã chết) và bà: Hoàng Thị H (đã chết); vợ: Hoàng Thị T, con: có 01 con, sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, đến ngày 15/11/2022 chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
Người chứng kiến: Ông Lành Văn T, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 50 phút ngày 22/8/2022, tại thôn H, xã H1, thành phố L, Công an xã H1, thành phố L phát hiện bắt quả tang Nông Văn H đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác phía trước, bên phải Nông Văn H đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver, bên trong có 02 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, Nông Văn H khai nhận là ma túy Heroine; và tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Supermalays, màu đen, biển kiểm soát: 12K2 - 1250.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn H, thu giữ trong ngăn bàn uống nước tại phòng khách 01 túi nilon màu trắng kích thước 04cm x 07cm chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng có cùng kích thước bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver, đựng 19 gói giấy bạc nhỏ chứa chất bột màu trắng. Nông Văn H khai nhận toàn bộ số ma túy trên là Heroine, Huy cất giấu để sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn H khai nhận: Bản thân là đối tượng sử dụng chất ma túy Heroine từ năm 2021 đến nay. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/8/2022, Nông Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12 K2-1250 đi từ nhà đến khu vực B (phường Vĩnh Trại, thành phố L), gặp và mua với một người đàn ông không quen biết 2.300.000 đồng, được 01 túi nilon chứa ma túy Heroine, Nông Văn H mang số ma túy trên về nhà chia ra thành nhiều phần đóng gói bằng giấy bạc rồi cất giấu vào trong ngăn bàn uống nước tại phòng khách để sử dụng dần. Khoảng 09 giờ, ngày 22/8/2022, Nông Văn H lấy 02 gói ma túy Heroine cho vào trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver rồi cất vào trong túi bên phải, áo khoác đang mặc và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K2-1250 đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực giao cắt với Quốc lộ 1A thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.
Bản Kết luận giám định số 302/KL-KTHS ngày 24/8/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn xác định:
- Chất bột màu trắng chứa trong 02 gói giấy bạc thu giữ trên người Nông Văn H là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,042 gam (đã trừ bì).
- Chất bột màu trắng chứa trong 02 túi ni lon màu trắng và 19 gói giấy bạc thu giữ tại chỗ ở của Nông Văn H là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,961 gam (đã trừ bì).
Quá trình điều tra, Nông Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 163/CT-VKSTP ngày 23-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nông Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 16 tháng đến 18 tháng tù.
Căn cứ Điều 47, Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 02 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver
Trả lại bị cáo Nông Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu Supermalays, màu sơn đen, biển kiểm soát: 12K2 - 1250
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tòa án đã triệu tập người chứng kiến ông Lành Văn T, tại phiên tòa hôm nay ông Lành Văn T vắng mặt, trong hồ sơ đã có lời khai của ông Lành Văn T. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Lành Văn T theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 09 giờ 50 phút ngày 22/8/2022, tại thôn H, xã H1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn H đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,003 gam chất ma túy Heroine trên người và chỗ ở để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Nông Văn H có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Nông Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên hiện nay bị cáo sử dụng chất ma túy. Do đó bị cáo có nhân thân không tốt.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ông nội bị cáo là Nông Văn Thi được tặng bằng khen trong cuộc kháng chiến chống pháp, bị cáo phạm tội lần đầu đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản, sử dụng chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo (các biên bản xác minh ngày 30- 09-2022).
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nông Văn H vào ngày 20/8/2022 tại khu vực B (phường Vĩnh Trại, thành phố L), do bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Supermalays, màu sơn đen, biển kiểm soát: 12K2 - 1250, người đứng tên đăng ký xe là Trương Văn T, sinh năm 1977, trú tại thôn C, xã G, huyện C1, tỉnh Lạng Sơn. Năm 2019, Nông Văn H mua chiếc xe trên của Trương Văn T với giá 1.500.000 đồng để sử dụng làm phương tiện đi lại của gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định bên trong có 0,912 gam heroin; 02 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver đây là những vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy
Về án phí: Do bị kết án nên bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 22/8/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định bên trong có 0,912 gam heroin; 02 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver
3.2 Trả lại bị cáo Nông Văn H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Supermalays, màu sơn đen, biển kiểm soát: 12K2 - 1250, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 11 năm 2022).
4. Về án phí: Bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSNDTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHSCATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADSTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ CATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: VT, Tổ HCTP, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Thịnh |