vanban.org

Bản án 171/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hải mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
---------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2021/HS-ST
Ngày 29/11/2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên.

Bà Nguyễn Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Ông Trƣơng Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

193/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 185/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 tại Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn

T, xã M, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ

học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt

Nam; Họ tên bố: Nguyễn Hữu Q (Đã chết); Họ tên mẹ: Hoàng Thị Y; Chồng:

Trần Lê V (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008 và nhỏ sinh năm

2010; Danh chỉ bản số 663 do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 21/9/2021; Tiền

sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án số 127/HSST ngày

05/11/2010, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 06 tháng tù nhưng cho

hưởng án treo về Tội trộm cắp tài sản (Bản án đã đư c xóa); Tại bản án số

137/HSST ngày 31/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 08 tháng tù

về Tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 15/4/2014 (Bản án đã đư c xóa). Tạm giữ,

tạm giam: Từ ngày 17/9/2021 đến nay. Có mặt.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện Sóc

Sơn, thành phố Hà Nội. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án đư c tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày

17/9/2021, Nguyễn Văn T (Sinh năm 1994, trú tại: Thôn T, xã P, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) sử dụng điện thoại Nokia màu đen - trắng, lắp sim số 0963.xxxxxx gọi điện vào số điện thoại 0972.xxxxx của Nguyễn Thị H đư c lắp trong điện thoại Iphone màu vàng trắng. T gọi điện để đặt vấn đề mua 300.000 đồng ma túy đá của H. H đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại khu vực đầu làng thôn Đoài, xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H đi bộ ra đến địa điểm nhưng chưa kịp giao ma túy cho T thì bị lực lư ng Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra và thu giữ 01 (một) túi ma túy cất giấu tại túi áo khoác ngoài bên trái của H.

Rà soát khu vực xung quanh hiện trường, Cơ quan điều tra, Công an

huyện Sóc Sơn phát hiện Nguyễn Văn T, thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen - trắng, bên trong lặp sim số 0963.xxxxxx.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn tiến hành khám xét

nơi ở của Nguyễn Thị H tại thôn Đ, xã P, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Quá trình khám xét thu giữ: 01 (một) điện thoại di động Iphone màu vàng trắng, bên trong lắp sim số 0972.xxxxxxx, 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen, bên trong lắp số điện thoại 0877.xxxxxx.

Tại Kết luận giám định số 6935/KLGĐ-PC09 ngày 24/9/2021 của Phòng

kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon thu giữ của Nguyễn Thị H là ma túy loại Methamphetamine, khối lư ng: 0,310 gam.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Thị H khai: H mua của một người phụ

nữ không quen biết vào khoảng 17 giờ 00 ngày 16/9/2021, tại khu vực gầm cầu Thái Phù, xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội với giá 200.000 đồng. H không biết thông tin, lý lịch người nữ giới trên.

Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của H và T cho kết quả

dương tính với ma túy.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T, ngày

11/11/2021, Công an huyện Sóc Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên bằng hình thức phạt tiền, số tiền phạt 750.000 đồng.

Đối với người đã bán ma túy cho H, quá trình điều tra H không cung cấp

đư c lý lịch thông tin đối tư ng, Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ đư c nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen và 01

(một) điện thoại di động Iphone màu vàng trắng tạm giữ của Nguyễn Thị H; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen - trắng tạm giữ của Nguyễn Văn T và 01 (một) phong bì niêm phong chứa ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận T bộ hành vi phạm tội của

mình vào ngày 17/9/2021, lời khai phù h p với biên bản kiểm tra, biên bản

khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu,

kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 183/CT-VKS ngày 16/11/2021, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về "Tội mua bán trái phép

chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thị H thừa nhận: Ngày 17/9/2021, bị cáo đã mang theo

01 túi ma tuý loại Methamphetamine, khối lư ng là 0.310 gam với mục đích

bán cho người khác kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an kiểm

tra, phát hiện bắt giữ. Bị cáo nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp

luật và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại

phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng

định việc truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về "Tội mua bán trái phép chất ma túy"

theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội,

đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47

Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị H từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

tạm giữ, ngày 17/9/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo là đối tư ng nghiện,

không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 diện thoại di động

Iphone, 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu giữ của Nguyễn Thị H và 01

điện thoại di động Nokia màu đen - trắng thu giữ của Nguyễn Văn T. Tịch thu

tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Thị H và Giám

định viên.

Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết

quả xét hỏi, tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan,

T diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo

và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

1.1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện

Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện

Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá

trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có

ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

1.2. Về sự vắng mặt của người có quyền l i nghĩa vụ liên quan đến vụ án

tại phiên tòa: Trong quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn T đã có lời khai đầy đủ và đã có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận

hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 17/9/2021, tại khu vực đầu làng thôn Đoài, xã Phú

Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị H đã có hành vi mang theo 0,310 gam ma túy loại Methaphetamine với mục đích để bán trái phép cho người khác nhưng chưa kịp thực hiện việc giao ma túy và nhận tiền thì bị Cơ quan Công an huyện Sóc Sơn phát hiện, bắt giữ.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành "Tội mua bán trái

phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 07 năm.

..."

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về "Tội mua bán

trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản

lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm khác và là một vấn nạn mà xã hội đang lên án, đấu tranh nhằm loại trừ. Bị cáo nhận thức đư c hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do hám l i, không chấp hành quy định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần pH có mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Khi lư ng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân

của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm

hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị

cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị

cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s

khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử

xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo pH chịu, thể hiện

sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 và năm 2012, bị kết án

về "Tội trộm cắp tài sản" và đã đư c xóa án tích.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính

chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân

người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét

xử xét thấy cần pH áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra

khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật

Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng”. Xét bị cáo là đối tư ng nghiện ma túy, không có nghề

nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung

là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

01 điện thoại di động Iphone, 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu

giữ của Nguyễn Thị H và 01 điện thoại di động Nokia màu đen - trắng thu giữ

của Nguyễn Văn T là phương tiện liên lạc phục vụ việc mua bán ma túy nên cần

tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

01 phong bì niêm phong chứa ma túy loại Methaphetamine là vật cấm lưu

hành nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền l i, nghĩa vụ liên

quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật

Hình sự năm 2015;

- Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Nguyễn Thị H 30 (Ba mƣơi) tháng tù về "Tội mua bán trái

phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 17/9/2021.

2. Về vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone, 01 điện

thoại di động Nokia màu đen thu giữ của Nguyễn Thị H và 01 điện thoại di động Nokia màu đen - trắng thu giữ của Nguyễn Văn T.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy có chữ ký của

Nguyễn Thị H, Giám định viên và Cán bộ Công an huyện Sóc Sơn.

(Vật chứng đang đư c lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc

Sơn, tình trạng như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 25/11/2021 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án phí:

Bị cáo pH nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ

thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

4. Về kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đư c tống đạt bản án h p lệ. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan.

Cỡ chữ