- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Thương Tín - Dương Hoài Tấn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TT.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2021/DS-ST Ngày 24 – 12 – 2021 (V/việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Ngô Kiên Định - Kiểm sát viên .
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 240/2021/TLST-DS, ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 633/2021/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TT. Địa chỉ: Số 266-268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm – Tổng giám đốc.
Đơn vị được ủy quyền khởi kiện: Ngân hàng TT – Chi nhánh Cà Mau. Do ông Diệp Lâm Kỳ P – Giám đốc chi nhánh Cà Mau là đại diện theo giấy ủy quyền số 3977/2019/GUQ-PL ngày 28/12/2020 của Tổng giám đốc Ngân hàng TT (về việc Ủy quyền tham gia tố tụng).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Yến N, chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ tín dụng tiêu dùng - Phòng kiểm soát rủi ro theo giấy ủy quyền tham gia tố tụng số 399/2021/UQ-CNCM ngày 08/4/2021 của Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng TT - Chi nhánh Cà Mau về việc uỷ quyền lại tham gia tố tụng (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Hoài T, sinh năm: 1964 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 18, Lý Thường K, khóm T, phường Y, thành phố CM, tỉnh Cà
Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện như sau:
Vào ngày 06/12/2013, ông Dương Hoài T với Ngân hàng TT, chi nhánh Cà Mau (gọi tắt là ngân hàng) có thỏa thuận và ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tại Ngân hàng để được cấp thẻ tín dụng. Căn cứ vào thu nhập của ông T, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức giao dịch là 20.000.000 đồng với mục đích là tiêu dùng cá nhân. Ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.750.000 đồng (trong đó thẻ Family giao dịch số tiền 9.850.000đồng, thẻ Visa giao dịch số tiền 9.900.000đồng).
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến tháng 5 năm 2017 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 28.799.000 đồng bao gồm vốn và lãi của các lần giao dịch (trong đó thẻ Family giao dịch số tiền 13.534.000đồng, thẻ Visa giao dịch số tiền 15.225.000đồng). Sau đó thì không thực hiện theo thỏa thuận, Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng ông T vẫn không thanh toán. Do ông Dương Hoài T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/9/2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến thời điểm xét xử là hết ngày 24/12/2021, ông T còn nợ lại ngân hàng số tiền là 24.378.607 đồng, trong đó thẻ Family: 10.591.455 đồng (tiền vốn 3.917.020 đồng, lãi suất trong hạn: 4.449.623 đồng, lãi quá hạn: 2.224.812đồng; thẻ Visa: 13.787.152 đồng (tiền vốn 4.651.787 đồng, tiền lãi trong hạn 6.090.243 đồng, lãi quá hạn 3.045.122đồng). Tổng nợ gốc là 8.568.807 đồng, lãi trong hạn là 10.539.866 đồng, lãi quá hạn là 5.269.934 đồng. Nay ngân hàng yêu cầu ông T phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ trên và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và ông Dương Hoài T không có ký hợp đồng thế chấp tài sản, không có bên thứ ba bảo lãnh.
Đối với ông Dương Hoài T trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập hợp lệ nhưng ông T vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì tất cả đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, Kiểm sát viên cho rằng việc ông Tấn vi phạm hợp đồng đối với ngân hàng là có thật, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự, các điểm b khoản 2, điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng TT thuộc lĩnh vực tranh chấp về hợp đồng vay dưới hình thức cấp thẻ tín dụng; ông Dương Hoài T là bị đơn, có nơi cư trú tại Số 18, Lý Thường Kiệt, khóm T, phường Y, thành phố CM, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung của vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay được thể hiện dưới hình thức cấp thẻ tín dụng theo giấy đề nghị của ông Dương Hoài T đề ngày 06/12/2013 để cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.000 đồng. Đề nghị cấp thẻ có chữ viết và chữ ký của ông Dương Hoài T kèm theo sổ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân và được Chi cục kiểm lâm – Đội kiểm lâm cơ động nơi ông T làm việc xác nhận, Cơ quan không bảo lãnh nợ. Ông Dương Hoài T cam kết thanh toán vốn và mức lãi suất theo quy định mà Ngân hàng đưa ra. Xét thấy, trong quá trình sử dụng thẻ ông Dương Hoài Tấn đã thực hiện giao dịch đối với các thẻ trên và hiện nay dư nợ là 24.378.607 đồng, trong đó bao gồm vốn gốc và lãi suất trong hạn và lãi quá hạn. Mặt khác, tại hồ sơ thể hiện tất cả các giao dịch của hai bên đều do các bên tự nguyện xác lập và trong quá trình thực hiện các khoản vay quá hạn ngân hàng cũng đã thông báo cho ông Dương Hoài T nhiều lần nhưng ông Dương Hoài T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền trên. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu ông Dương Hoài Tấn thanh toán các khoản vay trên cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và ông Dương Hoài T không xác lập hợp đồng thế chấp tài sản, không có bên thứ ba bảo lãnh khoản nợ vay và không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Dương Hoài T phải nộp theo quy định. Ngân hàng không phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TT.
Buộc ông Dương Hoài T thanh toán số nợ cho Ngân hàng theo giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng đến thời điểm ngày xét xử là hết ngày 24/12/2021 với tổng số tiền 24.378.607 đồng (trong đó: nợ gốc là 8.568.807 đồng, lãi trong hạn là 10.539.866 đồng, lãi quá hạn là 5.269.934 đồng) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/12/2021) ông Dương Hoài T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Dương Hoài T phải nộp số tiền là 1.218.900đồng (Một triệu, hai trăm mười tám nghìn, chín trăm đồng - chưa nộp). Ngân hàng TT không phải nộp án phí. Vào ngày 29/4/2021, Ngân hàng đã dự nộp 544.000đồng (Năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai số 0000998 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau Ngân hàng được nhận lại khi bản án có hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêù 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngân hàng TT có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Dương Hoài T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau - VKSND thành phố Cà Mau - Các đương sự - Lưu hồ sơ - Lưu án văn - Lưu TM (TANDTPCM) | (Đã ký) Lê Thúy Dung |