vanban.org

Bản án 171/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2020/HS-ST
Ngày 19 tháng 5 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Tú

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên- Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 163/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:189/2020/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Thế H, sinh ngày 01/11/1969.

ĐKHKTT: Xóm PC, xã LM, huyện HĐ, tỉnh Thái Nguyên.

D©n téc: Kinh; Quèc tÞch: ViÖt Nam; T«n gi¸o: Kh«ng; Văn hóa: 12/12; NghÒ nghiÖp: Không. Con ông: Lê Thế X (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1945. Gia đình có 07 chị em, bị cáo là thứ ba; có vợ là Dương Thị C, sinh năm 1980; có 02 con chung. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Thái Nguyên từ ngày 11/01/2020 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Nguyễn Đức M, sinh năm 1960 (vắng mặt)

HKTT: Tổ 11, phường TQ, thành phố TH.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 11/01/2020, Công an phường TQ, thành phố TH đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường G TH thuộc khu vực tổ 13, phường TQ phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô BKS 20L4-1XXX có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã áp sát để tiến hành kiểm tra thì người đàn ông thả từ trong tay trái xuống đất 01 gói giấy màu trắng. Quá trình kiểm tra, người đàn ông khai tên là Lê Thế H. Kiểm tra gói giấy màu trắng H thả xuống đất trước đó thấy bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, H khai là Heroine. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Thế H có khối lượng là 0,129gam và lấy mẫu vật gửi giám định ký hiệu H1. Tại bản Kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 17/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,129 gam.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu H1; 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, BKS 20L4-1XXX.

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSTPTH ngày 18/3/2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố Lê Thế H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại cơ quan điều tra, Lê Thế H khai: Khoảng 08 giờ ngày 11/01/2020, H điều khiển xe mô tô BKS 20L4-1XXX đến khu vực cầu BG để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Trước đó H đã xin được số điện thoại của người bán ma túy nên đã gọi điện thoại cho người này để hỏi mua ma túy. Người thanh niên đó gặp H ở khu vực đầu cầu BG và H đưa cho anh ta 100.000đ. Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày tại khu vực sân ga TH, nam thanh niên trên đưa cho H 01 gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng. H cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về, nhưng khi đến khu vực tổ 13, phường TQ thì bị tổ công tác của Công an phường TQ yêu cầu kiểm tra, do hoảng sợ H đã thả gói ma túy trong tay trái xuống đất. Công an phường TQ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Kết thúc thẩm vấn, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thế H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Thế H từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải nộp án phí.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng giảm nhẹ mức án.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố TH, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Hồi 13 giờ 10 phút ngày 11/01/2020, tại khu vực tổ 13, phường TQ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên, Lê Thế H có hành vi cất giữ 0,129 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường TQ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ.

. Về tính chất, mức độ, hành vi: Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, có thái độ tỏ ra ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Xét thấy nên giảm nhẹ cho bị cáo một mức hình phạt để thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội.

Mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị nêu trên là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Lê Thế H khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ga TH, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không đủ cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên miễn hình phạt này cho bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: thu giữ 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu H1. Mặt sau phong bì có chữ ký của đ/c Trương Đăng Tam- cán bộ Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên và đ/c Ma Triệu Vũ- cán bộ CATP TH cùng 02 dấu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên, xét đây là vật chứng phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL SYM, BKS 20L4-1XXX; SK: D-153XXX; SM: D-153XXX, loại xe nữ, dung tích 97, xe không yếm, đã cũ nát. Xét đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

. Bị cáo phải nộp án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Lê Thế H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2020. Căn cứ Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu H1. Mặt sau phong bì có chữ ký của đ/c Trương Đăng Tam- cán bộ Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên và đ/c Ma Triệu Vũ- cán bộ CATP Thái Nguyên cùng 02 dấu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL SYM, BKS 20L4-1XXX; SK: D-153XXX; SM: D-153XXX, loại xe nữ, dung tích 97, xe không yếm, đã cũ nát. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 209 ngày 12/3/2020 giữa Công an thành phố TH với Chi cục Thi hành án dân sự TPTH.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST vào NSNN.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ