- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TC ly hôn Yến - Lee"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Lee Dong Kwan.
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2019/HNGĐ-ST Ngày 10-10-2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3809/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 3908/TB-TA ngày 20 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn PC, xã Đ, huyện KT, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Lee Dong Kwan, sinh năm 1971; nơi cư trú: #158, Dongjung-ri, Buan-eup, Buan-gun, Jeollabuk-do, Hàn Quốc.
Chị Nguyễn Thị Y có mặt, anh Lee Dong Kwan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2019 nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện KT, thành phố Hải Phòng vào ngày 06/3/2019. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn tại Việt Nam sau đó anh Lee Dong Kwan trở về Hàn Quốc. Thời gian đầu anh Lee Dong Kwan thường xuyên liên lạc về Việt Nam hỏi thăm chị Y, sau một thời gian anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, bất đồng về ngôn ngữ, vì vậy anh chị không hiểu nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đến nay anh chị sống mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh chị thống nhất ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong đơn xin ly hôn và đơn xin xét xử vắng mặt của bị đơn là anh Kwak Taewon đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trình bày:
Anh Lee Dong Kwan thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Y về quá trình kết hôn, chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Anh xác nhận, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Y. Do anh Lee Dong Kwan là người có quốc tịch Hàn Quốc, hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc, không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn được nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh, anh đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Y nhận thay tất cả văn bản tố tụng của Tòa án.
Về con chung: Anh chị không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản: Anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh Lee Dong Kwan đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Y có mặt, anh Lee Dong Kwan vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của anh Lee Dong Kwan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Y hiện đang cư trú tại thành phố Hải Phòng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lee Dong Kwan, quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn là anh Lee Dong Kwan vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân huyện KT, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/3/2019 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị Y trình bày tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện cuộc sống chung của chị Y và anh Lee Dong Kwan không còn hạnh phúc, anh chị sống mỗi người một nơi, không liên quan đến nhau về tình cảm và kinh tế. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Y và anh Lee Dong Kwan đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, việc chị Y xin ly hôn với anh Lee Dong Kwan và được anh Lee Dong Kwan đồng ý phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Lee Dong Kwan.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan không có tài sản chung, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Y là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Lee Dong Kwan.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lee Dong Kwan không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001999 ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị Y đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Lee Dong Kwan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND huyện KT; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |