vanban.org

Bản án 171/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Vũ Quốc Đ 02(hai)năm 06 tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ ngày 23/3/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặt phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2018/HS-ST
Ngày: 11 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩ;

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thị Bạn

2. Ông Hồ Xuân Giao

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Bà H’MiChan Niê-Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 06 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2018, đối với:

Họ và tên: Vũ Quốc Đ;Tên gọi khác: Tèo; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1993;Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:12/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;Con ông: Vũ Văn Đ,sinh năm 1960. Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1959. Bị cáo chưa có vợ con.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/3/2018 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Ông Phạm Ngọc C; địa chỉ: 19 A , phường E, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; (Vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: 48 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk;(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Quốc Đ là đối tượng nghiện chất ma túy loại Ketamine (khay) và ma túy dạng thuốc lắc. Vào khoảng tháng 02/2018, Đặt quen biết với một người tên Hoàng ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) có bán ma túy. Đ sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen gắn sim thuê bao 0946.638.131 gọi điện cho Hoàng mua 16 viên ma túy dạng thuốc lắc và 07 gói nylon ma túy loại Ketamine với số tiên 10.000.000 đồng để sử dụng dần cho bản thân.

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/3/2018, Đ cất giấu số ma túy còn lại gồm 05 viên ma túy dạng thuốc lắc và 04 gói nylon ma túy dạng Ketamine vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người để mang theo đi chơi với bạn bè và sử dụng. Khi Đ đang đi bộ một mình trên đường Trần Huy Liệu, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác đang mặc số ma túy trên và 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia 1280 màu đen và số tiền 500.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số: 333/GĐMT-PC54 ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:

Chất bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng 1,4583 gam.

05 (năm) viên hình tròn màu xanh đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 1,7130 gam.

Mẫu vật còn lại sau giám định gồm:

+ Chất bột màu trắng có khối lượng 1,4216 gam

+ Viên nén màu xanh có khối lượng 1,4635 gam

Tại bản cáo trạng số 184/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Vũ Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp. Buôn Ma Thuột giữ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Quốc Đ như bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vũ Quốc Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy đối với 1,4216 gam Ketamine và 1,4635 gam MDMA còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 333/GĐMT-PC54, ngày 27/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk.

-Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim thuê bao 0946.380.131 là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

-Trả lại số tiền 500.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Vũ Quốc Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Đối với nguồn ma túy, bị cáo khai nhận mua của một người nam giới tên Hoàng ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị cáo không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của đối tượng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không có cơ sở để điều tra xử lý là phù hợp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Vũ Quốc Đ không tranh luận gì thêm thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã gây ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột; Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của Vũ Quốc Đ tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu được tại hiện trường; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện… nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 23/3/2018, tại khu vực đường Trần Huy Liệu, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang Vũ Quốc Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Đ 01 gói nylon có chứa 05 (năm) viên nén hình tròn màu xanh là ma túy loại MDMA có khối lượng 1,7130 gam; 04 gói nylon có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Ketamine có khối lượng 1,4583 gam là phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)……;

………;

i) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Quốc Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về ma túy vì MDMA và Ketamine là chất ma túy ở mục 20 thuộc danh mục I được ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ; theo đó, Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng chất này trong y học và đời sống xã hội bởi hệ lụy của ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe đồng thời cũng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

Khi phạm tội, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, bị cáo biết và buộc phải biết việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị pháp luật trừng trị bằng hình phạt; nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 05 viên ma túy dạng thuốc lắc và 04 gói nylon ma túy dạng Ketamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội trong công cuộc phòng, chống ma túy.

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Do đó, cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối chiếu với quy định tại Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

-Cần tịch thu tiêu hủy đối với 1,4216 gam Ketamine và 1,4635 gam MDMA còn lại sau giám định.

-Cần tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim thuê bao 0946.380.131 là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại số tiền 500.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Vũ Quốc Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Đối với nguồn ma túy, bị cáo khai nhận mua của một người nam giới tên Hoàng ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị cáo không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của đối tượng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không có cơ sở để điều tra xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Vũ Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Vũ Quốc Đ 02(hai)năm 06 tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ ngày 23/3/2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy đối với 1,4216 gam Ketamine và 1,4635 gam MDMA còn lại sau giám định.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, gắn sim thuê bao 0946.380.131 là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

-Trả lại số tiền 500.000 đồng cho Vũ Quốc Đ là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án

Về án phí: Bị cáo Vũ Quốc Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ