- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2018.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2018/HS-ST Ngày 25 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Ngọc Xuân Ninh
Bà Nguyễn Thị Năm
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Ngọc T; sinh ngày 31/5/1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1600/69 V, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn: 6/12); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang T (sinh năm 1959) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1958); có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 14/9/2001, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 1115/HSST). Chấp hành xong toàn bộ bản án vào tháng 12/2004.
- Ngày 17/01/2006, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số: 07/2006/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/6/2010, thi hành xong án phí vào ngày 11/9/2006. Riêng phần bồi thường về dân sự, do bị hại không có đơn yêu cầu nên cơ quan thi hành án không thụ lý.
- Ngày 26/9/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 05/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định hủy Quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do Bùi Ngọc Tú trốn viện.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 20/4/2018 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Ngô Kim T, sinh năm 1980; nơi cư trú: 125/7 N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 20/4/2018, tại trước số 41 H, Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, trinh sát đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nghi vấn Bùi Ngọc T đang điều khiển xe gắn máy biển số 59U1-893.42, có liên quan đến ma túy nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, T ném từ trên tay xuống đất 01 gói nylon chứa ma túy thì bị Công an phát hiện, thu giữ. Qua kiểm tra, Công an còn phát hiện và thu giữ trên baga xe gắn máy của Tú 01 gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 09 gói giấy bạc, 03 đoạn ống nhựa màu xanh, 03 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, tất cả đều chứa ma túy. Sau đó, Công an đưa T và vật chứng về trụ sở Công an Phường 14, Quận 8 tiếp tục kiểm tra thì phát hiện và thu giữ trong túi vải treo trên baga xe gắn máy của Tú có 01 bóp vải màu đen, bên trong có 06 gói nylon, 08 đoạn ống nhựa màu xanh, 06 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa không màu, tất cả các gói nylon và ống nhựa đều chứa ma túy; tạm giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 xe gắn máy biển số 59U1-893.42 và số tiền 300.000 đồng. Công an Phường 14, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, sau đó chuyển giao hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra, làm rõ.
Theo bản Kết luận giám định số 779/KLGĐ-H ngày 27/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Bột màu trắng trong 01 gói nylon cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8307g (một phẩy tám ba không bảy gam), loại Heroine.
- Bột màu trắng trong 09 gói giấy bạc cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4054g (không phẩy bốn không năm bốn gam), loại Heroine.
- Bột màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa màu xanh cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0680g (không phẩy không sáu tám không gam), loại Heroine.
- Bột màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa màu tím cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0598g (không phẩy không năm chín tám gam), loại Heroine.
- Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu vàng cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0271g (không phẩy không hai bảy một gam), loại Heroine.
- Tinh thể không màu trong 06 gói nylon cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5632g (không phẩy năm sáu ba hai gam), loại Methamphetamine.
- Bột màu trắng trong 08 đoạn ống nhựa màu xanh cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1943g (không phẩy một chín bốn ba gam), loại Heroine.
- Bột màu trắng trong 06 đoạn ống nhựa màu tím cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1280g (không phẩy một hai tám không gam), loại Heroine
- Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu vàng cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0287g (không phẩy không hai tám bảy gam), loại Heroine.
- Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0251g (không phẩy không hai năm một gam), loại Heroine.
Quá trình điều tra, Bùi Ngọc T khai nhận: Do cần ma túy để sử dụng, khoảng 08 giờ ngày 20/4/2018, T điều khiển xe gắn máy biển số 59U1-893.42 đến khu vực ngã tư Q, Phường AS, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp và mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch) 01 gói heroine với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, người thanh niên hỏi T có mua 01 gói thuốc lá hiệu Jet (bên trong có 09 gói giấy bạc, 03 đoạn ống nhựa màu xanh, 03 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, tất cả đều chứa heroine) và 01 túi vải đựng 01 bóp vải màu đen (bên trong có 06 gói nylon chứa ma túy tổng hợp, 08 đoạn ống nhựa màu xanh, 06 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa không màu, tất cả ống nhựa đều chứa heroine) với giá 1.300.000 đồng, thì T đồng ý mua. Do T chưa có tiền nên hẹn trả tiền sau thì người thanh niên đồng ý. Sau khi mua được ma túy, T kẹp 01 gói thuốc lá hiệu Jet chứa ma túy lên baga xe và treo 01 túi vải đựng 01 bóp vải màu đen chứa ma túy lên baga xe, còn 01 gói heroine T cầm trên tay, rồi điều khiển xe về đến trước số 41 H, Phường AS, Quận B, thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang như trên.
Đối với xe gắn máy biển số 59U1-893.42, qua xác minh do anh Nguyễn Thái H, (sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: 485/5 N, Phường D, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Anh Hoàng khai mua và sử dụng xe trên đến khoảng tháng 5/2017 thì bán xe cho một tiệm mua bán xe (không rõ địa chỉ) trên đường N, Quận V. Bùi Ngọc T khai xe trên do T mượn của anh Ngô Kim T (là anh rể bên nhà vợ của T), sau đó đi mua ma túy thì bị bắt, anh T không biết. Anh T khai: Khoảng tháng 7/2017, anh T mua xe gắn máy biển số 59U1-893.42 tại một tiệm mua bán xe (không rõ địa chỉ) ở Quận V nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã có công văn đề nghị đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nêu trên nhưng đến nay chưa có kết quả.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong ghi số 779/18/Q8; có các chữ ký ghi tên Bùi Ngọc T, chữ ký Phan Tấn Q, cán bộ Nguyễn Huy L và hình dấu Công an Phường 14, Quận 8.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0901275731, có số imei: 358621/04/079118/9.
- 01 (một) xe gắn máy biển số 59U1-893.42; có số khung: RLHJA3605EY103966, số máy: JA36E0168265.
- Số tiền 300.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 169/CT-VKS ngày 08/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Ngọc T khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, xác định, vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 20/4/2018, tại trước số 41 H, Phường AS, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Ngọc T có hành vi cất giữ ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,7671g, loại Heroine và 0,5632g, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng thu giữ: Số ma túy thu giữ của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại bị cáo. Số tiền 300.000 đồng, bị cáo dùng đi mua ma túy nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 (một) xe gắn máy biển số 59U1-893.42, số khung: RLHJA3605EY103966, số máy: JA36E0168265, do chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị tiếp tục tạm giữ và đăng trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm tìm người sử dụng hợp pháp, nếu không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 20/4/2018, tại trước số 41 H, Phường AS, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Ngọc T có hành vi cất giữ ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,7671g, loại Heroine và 0,5632g, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Bùi Ngọc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2001 và năm 2006 bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Cướp giật tài sản”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp nhân thân bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong 01 (một) gói niêm phong ghi số 779/18/Q8; có các chữ ký ghi tên Bùi Ngọc T, chữ ký Phan Tấn Q, cán bộ Nguyễn Huy L và hình dấu Công an Phường 14, Quận 8, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0901275731, có số imei: 358621/04/079118/9, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 300.000 đồng, xét bị cáo sử dụng mua ma túy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (một) xe gắn máy biển số 59U1-893.42; có số khung: RLHJA3605EY103966, số máy: JA36E0168265. Qua xác minh xe do anh Nguyễn Thái H, (sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: 485/5 N, Phường D, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Anh H khai mua và sử dụng xe trên đến khoảng tháng 5/2017, anh H bán xe trên cho một tiệm mua bán xe (không rõ địa chỉ) trên đường N, Quận V. Bùi Ngọc T khai xe trên do T mượn của anh Ngô Kim T (là anh rể bên nhà vợ của T), sau đó đi mua ma túy thì bị bắt, anh T không biết. Anh T khai: Khoảng tháng 7/2017, anh T mua xe gắn máy biển số 59U1-893.42 tại một tiệm mua bán xe (không rõ địa chỉ) ở Quận V nhưng chưa làm thủ tục sang tên, và có yêu cầu nhận lại xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã có công văn đề nghị đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nêu trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Xét mặc dù anh T có yêu cầu nhận lại xe nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc mua bán xe là hợp pháp, do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh T; cần tiếp tục tạm giữ và đăng trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời hạn 01 năm, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Bùi Ngọc T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2018.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 (một) gói niêm phong ghi số 779/18/Q8; có các chữ ký ghi tên Bùi Ngọc T, chữ ký Phan Tấn Q, cán bộ Nguyễn Huy L và hình dấu Công an Phường 14, Quận 8.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0901275731, có số imei: 358621/04/079118/9.
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; các Điều 221, 228 của Bộ luật Dân sự.
Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe gắn máy biển số 59U1-893.42; có số khung: RLHJA3605EY103966, số máy: JA36E0168265, để đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu. Nếu hết thời hạn thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
(Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 155 PNK ngày 16/7/2018 và Giấy nộp tiền vào tài khoản đề ngày 16/7/2018).
- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Bùi Ngọc T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1); - VKS ND Quận 8 (2); - VKS ND TP. HCM (1); - CQ ĐT CA Quận 8 (1); - CQ THA HS CA Quận 8 (1); - Nhà tạm giữ CA Quận 8 (1); - Chi cục THA DS Quận 8 (1); - Người tham gia tố tụng khác (1); - TA ND TP.HCM (1); - Sở Tư pháp TP.HCM (1); - PC53 (1); - Lưu: HS, VT (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |