vanban.org

Bản án 171/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh H (Mum) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H (Mum) 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/4/2018. Tịch thu và tiêu hủy 02 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thanh H và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh H (Mum) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2018/HS-ST
Ngày: 11 - 10 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Minh Thanh.

Bà Tiêu Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Thanh H (Mum), sinh năm: 1963, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: số 8/5 đường L, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh S và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ; Có vợ Trần Thị Liên C sinh năm 1968 có 02 con lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998; tiền án:- Ngày 18/5/2012, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chi Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bản án số 148/2012/HSST); nhân thân: Ngày 26/3/1986, Tòa án nhân dân quận Bình thạnh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản riêng của công dân” (bản án số 42/HSST). Ngày 23/5/1989 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (bản án số 81/HS-ST); tiền sự: không;

: 17/4/2018; (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quang L, sinh năm 1959, trú tại: số 490/29 đường L, Phường M, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 14 giờ 30 ngày 17/4/2018, phòng PC 45 Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với Công an Phường 13, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính phát hiện Phạm Thanh H đang cầm trong tay phải 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, kiểm tra thu giữ trong bóp của H phát hiện thêm 01 gói nylon chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ H khai là ma túy đá nên tiến hành thu giữ và lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Thanh H khai nhận: do nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 17/4/2018 H điều khiển xe 59U1-212.16 đến khu vực cầu Tân Thới Hiệp, Quận 12 mua 01 gói ma túy đá với số tiền 500.000 đồng của 01 thanh niên không rõ lai lịch, khi về đến trước nhà số 1416/2 đường Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp thì bị kiểm tra phát hiện và bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 759/KLGĐ-H ngày 26/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: tinh thể không màu trong 01 gói nylon đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thanh H và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,5075 gram là loại Methamphetamin..

- Gói 2: 02 (hai) viên nén hình tròn màu đỏ trong 01 gói nylon đã được niêm phong bên ngoài có ghi chữ ký ghi tên Phạm Thanh H và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2122gram là loại Methamphetamin..

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói gói nylon chứa tinh thể rắn không màu.

- 01 gói ny lon chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 353263079302847.

- 01 chiếc xe gắn máy biển số 59U1-212.16 số khung 856316, số máy 856325. Qua xác minh do ông Trần Quang L đứng tên, xác minh tại địa phương thì ông L không còn ở địa phương từ tháng 01/2015 không rõ đi đâu. Phạm Thanh H khai mua xe của 01 đối tượng tên Hùng (không rõ lai lịch). Khi mua xe không có giấy tờ, cơ quan điều tra đã đăng thông tin tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến nhận.

Đối với người bán ma túy cho H Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào xác định được xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 175/CTr-VKS, ngày 18/9/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Phạm Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy biển số 59U1-212.16

- Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 353263079302847.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu với các Điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Phạm Thanh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội.

Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng ....trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án về tội “mua bán trái phép chất ma túy” nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mà mình vừa được cải tạo xong, thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật và lần phạm tội này là tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khỏan 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo và cần thiết phải có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập và tiếp tục học tập phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thanh H và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp,thành phố Hồ Chí Minh qua giám định là Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành và sử dụng Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe gắn máy biển số 59U1-212.16 số khung 856316, số máy 856325. Qua xác minh do ông Trần Quang L đứng tên, xác minh tại địa phương thì ông L không còn ở địa phương từ tháng 01/2015 không rõ đi đâu. Phạm Thanh H khai mua xe của 01 đối tượng tên Hùng (không rõ lai lịch). Khi mua xe không có giấy tờ, cơ quan điều tra đã đăng thông tin tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến nhận. Hội đồng xét xử xét thấy xe không có nguồn gốc rõ ràng, đã quá thời hạn đăng trên thông tin đại chúng và là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 353263079302847 là tư vật của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh H (Mum) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H (Mum) 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/4/2018.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 02 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thanh H và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy biển số 59U1-212.16 số khung RLCS5C640-CY856316, số máy 5C64-856325.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 353263079302847 .

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 147/PNK, ngày 27/6/2018 của Công an quận Gò Vấp và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ