vanban.org

Bản án 171/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/09/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khá ng cá o củ a ông Ngô Văn M. Sử a Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần án phí.

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L đối với ông Ngô Văn M về việc yêu cầu ông Ngô Văn M trả lại đất. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Văn L-Ngô Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khá ng cá o củ a ông Ngô Văn M. Sử a Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần án phí.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2018/DS-PT
Ngày: 17 - 9 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễ n Thà nh Lậ p

Ông Hồ Minh Tấ n

-Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Thú y Hồ ng - Kiểm sát viên.

Ngày17 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2018/TLPT- DS ngày 12 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 202/2018/QĐPT-DS ngày 10 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1950 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: xã Kh, huyện U, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Ngô Văn M, sinh năm 1954 (có mặt). Địa chỉ cư trú: Xã Kh, huyện U, tỉnh C.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Văn M: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1966, địa chỉ cư trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956 (có mặt).

2. Bà Lâm Thị Th, sinh năm 1930 (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

3. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 (có mặt).

4. Bà Trần Thị Tr, sinh năm 1952 (vắ ng mặ t).

5. Ông Sơn Thanh T1, sinh năm 1955 (vắ ng mặ t).

6. Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1955 (có mặt).

7. Anh Đào Quốc T (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Xã Kh, huyện U, tỉnh C

-Ngườ i khá ng cá o: Ông Ngô Văn M – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 02 năm 2016 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:

Nguyên trước đây mẹ ông là bà Lâm Thị Th có cho ông M phần đất tại ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chiều ngang là 37 mét, chiều dài đến sông Khánh Hội. Đến năm 1995 ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 150. Cha mẹ ông có cho vợ chồng ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị G phần đất cặp ranh với ông, khi vợ chồng ông Ngô Văn M cất nhà, mẹ ông nói là cho vợ chồng ông Ngô Văn M đào đường mương trên phần đất của ông để chở lúa lấy đất đắp nền nhà còn phần bờ thì làm ranh đất. Khi có bờ ranh thì ông Ngô Văn M trồng hàng dừa để làm bờ ranh. Sau đó khi Nhà nước thổi đất thì đường mương bị lấp lại, nhưng hàng dừa vẫn còn. Đến năm 2014 ông Ngô Văn M trồng dừa lấn sang phần đất của ông T1hì mẹ ông là bà Lâm Thị Th nói với ông Ngô Văn M tại sao trồng dừa lấn sang đất của ông nhưng ông Ngô Văn M nói là đất của ông M, từ đó phát sinh tranh chấp.

Khi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã giữa ông và ông M thỏa thuận được với nhau, khi đó Ủy ban nhân dân xã đã cặm cột mốc ranh giới, nhưng sau đó ông Ngô Văn M tự ý nhổ cột mốc.

Ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô Văn M trả lại cho ông phần đất với diện tích theo kết quả đo đạc ngày 09 tháng 11 năm 2017 kèm theo sơ đồ vị trí đất ngày 05/12/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh với diện tích là 284,5m2.

* Trong quá trình xét xử ông Ngô Văn M trình bày:

Vào năm 1979 cha mẹ vợ ông là bà Lâm Thị Th cho ông và vợ là Nguyễn Thị G một phần đất tại ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tiếp giáp với đất ông L, khi đó có bờ ranh là đường mương để đi ra ruộng chở lúa. Đến năm 1995 ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần diện tích đất đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn L có vị trí tiếp giáp như sau: Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn L; hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Văn Xuân; hướng Nam giáp lộ xe U Minh – Khánh Hội; hướng Bắc giáp Kinh Hội.

Ông L cho rằng ông M lấn đất của ông L là không đúng, đất này là của ông và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý trả lại phần đất theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn L.

Trên phần đất tranh chấp có 02 căn nhà, 01 căn ông cho ông Sơn Thanh T1 và bà Nguyễn Ngọc A thuê đất cất nhà ở và cho bà Trần Thị Tr mượn đất cất nhà ở và ông có trồng 08 cây dừa và 04 cây me, quá trình giải quyết đất thuộc về ai đi nữa thì ông cũng không yêu cầu liên quan đến cây trồng này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Bà Lâm Thị Th trình bày: Bà và chồng bà là ông M1 có cho con là Nguyễn Văn L phần đất tại ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh với diện tích chiều ngang 37 mét, chiều dài hết phần đất, còn cho vợ chồng Nguyễn Thị G, Ngô Văn M phần đất giáp ranh với Nguyễn Văn L cũng chiều dài hết phần đất.

Khi bà cho đất thì các con của bà có đào con mương để chở lúa và lấy đất đắp nền nhà cho vợ chồng ông M, nhưng con mương nằm trên phần đất của Nguyễn Văn L và khi đó giữa hai bên thống nhất lấy hàng dừa do ông M trồng làm bờ ranh. Bà xác định phần đất hiện đang tranh chấp giữa ông L với ông M thuộc phần đất của ông L, trước đây bà đã cho ông L. Do đó bà thống nhất với yêu cầu của ông L buộc vợ chồng Nguyễn Thị G, Ngô Văn M trả lại phần đất lấn chiếm cho Nguyễn Văn L.

- Bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Ngô Văn M, bà không T1rình bày bổ sung gì thêm.

- Bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Nguyễn Văn L, bà bổ sung thêm là cha mẹ cho đất vào năm 1979.

- Tại biên bản hòa giải ngày 14/4/2016 bà Trần Thị Tr trình bày: Hiện nay bà đang mượn phần đất của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị G để cất nhà tạm ở, trường hợp Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp là của vợ chồng ông Ngô Văn M thì bà tiếp tục mượn đất để ở, còn nếu Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn L thì bà sẽ tự nguyện tháo dở di dời nhà đi nơi khác.

- Tại biên bản hòa giải ngày 14/4/2016 bà Nguyễn Ngọc A trình bày: Hiện nay vợ chồng bà đang thuê phần đất của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị G để cất nhà ở, hợp đồng thuê 05 năm, thời gian thuê từ năm 2016 đến năm 2021, giá thuê 2.500.000 đồng/năm. Trường hợp Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp là của vợ chồng ông Ngô Văn M thì bà được tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất với vợ chồng ông Ngô Văn M, còn nếu Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn L thì vợ chồng bà sẽ tự nguyện tháo dở di dời nhà đi nơi khác.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/4/2016 ông Sơn Thanh T1 trình bày: Hiện nay ông và vợ ông là bà A đang thuê phần đất của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị G để cất nhà ở. Trường hợp Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp là của vợ chồng ông Ngô Văn M thì ông T1iếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất với vợ chồng ông Ngô Văn M, còn nếu Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn L thì ông sẽ tự nguyện tháo dở di dời nhà đi nơi khác.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/4/2016 anh Đào Quốc T trình bày: Anh có trồng 07 cây mai vàng và 02 cây gừa trên phần đất của cha vợ anh là ông Nguyễn Văn L, không phải trồng trên phần đất của ông Ngô Văn M. Trường hợp Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp thuộc về ông Ngô Văn M thì anh sẽ di dời các cây trồng đi nơi khác còn nếu đất của cha vợ anh thì anh tiếp tục trồng cây ở đó.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Văn M trình bày: Ông Ngô Văn M sử dụng phần đất ổn định hơn 30 năm, từ khi ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và canh tác phía ông L cũng không có ngăn cản nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của ông L, giữ nguyên hiện trạng đất cho ông M.

Từ nộ i dung trên , tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U Minh đã tuyên xử:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 158; khoản Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 166 và Điều 203 Luật đất đai.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L đối với ông Ngô Văn M về việc yêu cầu ông Ngô Văn M trả lại đất. Buộc ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị G khai thác 08 cây dừa và 04 cây me trả lại đất cho ông Nguyễn Văn L phần đất có diện tích, vị trí đất theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh như sau:

- Một cạnh tiếp giáp với Sông Khánh Hội dài 6,2 mét,

- Một cạnh tiếp giáp với Đê bao khoanh rừng dài 2,5 mét,

- Một cạnh tiếp giáp với đất ông Nguyễn Văn L dài 65,4 mét,

- Một cạnh tiếp giáp với đất ông Ngô Văn M dài 65,9 mét,

Tổng diện tích là 284,5 m2, đất thuộc ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn L hỗ trợ cho ông Ngô Văn M khai thác 08 cây dừa và 04 cây me với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghì n đồ ng).

3. Buộc bà Trần Thị Tr tháo dỡ , di dời căn nhà ngang 2,5 mét dài 4,6 mét, lợp lá, vách lá, nền đất, khung nhà bằng cây gỗ địa phương trả lại đất cho ông Nguyễn Văn L.

4. Buộc ông Sơn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc A tháo dỡ , di dời căn nhà ngang 3,6 mét, dài 5 mét, vách thiết, lợp tol lạnh, nền đất, khung nhà bằng cây gỗ địa phương, trả lại đất cho ông Nguyễn Văn L.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng , án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18.6.2018 ông Ngô Văn M có đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm , đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lý do đất ông M sử dụng, có ranh giới nhưng suốt 36 năm qua , có đắp bờ , trồ ng cây nhưng ông L không ngăn cả n gì .

Tại phiên tò a phú c thẩ m: Bà Nguyễ n Thị G (là vợ ông Ngô Văn M) xác định mẹ bà là bà Thêm cho đấ t là cho đấ t vợ chồ ng bà có mặ t tiề n 01 công rưỡ i tầ m lớ n, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn . Đối với bà Lâm Thị Th khẳ ng đị nh khi cho đấ t ông L là cho chiều ngang tiền hậu đều 37 mét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễ n Văn L, buộ c ông Ngô Văn M trả cho ông Nguyễ n Văn L tổ ng diện tích là 284,5m2, phầ n đất thuộc ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh). Ông L đồ ng ý vớ i á n sơ thẩ m ; ông Ngô Văn M không đồ ng ý vớ i á n sơ thẩ m , có đơn kháng cáo, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn , lý do đất ông M sử dụ ng đấ t có ranh giới suốt 36 năm qua, có đắp bờ, trồ ng cây nhưng ông L không ngăn cả n gì . Từ đó, đông M đề nghị sửa án và không chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông L, giữ y phầ n đấ t tranh chấ p cho ông M sử dụ ng.

Về nguồn gốc đất đề u đượ c cá c bên thừ a nhậ n : Đất ông Nguyễn Văn L và ông Ngô Văn M đang sử dụng, đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà Lâm Thị Th cho ông Nguyễn Văn L một phần và cho bà Nguyễn Thị G cùng ông Ngô Văn M một phần; ông L và ông M đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995, đấ t củ a ông L thuộ c thửa số 150 (diệ n tí ch 2.250m2), đấ t củ a ông M thuộ c thửa số 149 (diệ n tí ch 4.300m2).

Ông Nguyễn Văn L và ông Ngô Văn M cùng thống nhất diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế tại biên bản ngày 09/11/2017 và sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh có tổ ng diệ n tích tranh chấp 284,5m2, có vị trí như sau: mộ t cạnh tiếp giáp với Sông Khánh Hội dài 6,2 mét, mộ t cạnh tiếp giáp với Đê bao khoanh rừng dài 2,5 mét, mộ t cạnh tiếp giáp với đất ông L dài 65,4 mét, mộ t cạnh tiếp giáp với đất ông M dài 65,9 mét. Trên phầ n đấ t tranh chấ p có trồ ng cá c loạ i cây dừ a, cây me (ông M trồ ng), cây gừ a, mai và ng (con rể ông L trồ ng) và 02 căn nhà (do ngườ i thuê đấ t ông M cấ t).

Ông L cho rằng trướ c đây khi ông M trồ ng dừ a lầ n qua phầ n đấ t củ a ông, gia đì nh đề u có nó i nhưng nghĩ trồ ng dừ a và i cây là để cho con chá u ăn, nên không yêu cầ u ông M đố n. Đế n năm 2014, ông M tiế p tụ c trồ ng dừ a , ông L ngăn cả n và phát sinh tranh chấ p . Ông L cho rằ ng ông M lấn chiếm qua phần đất của ông L, còn ông M cho rằng phần đất tranh chấp là thuộc Giấ y chứ ng nhậ n quyền sử dụng đất của ông M. Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/5/1995 của Ủy ban nhân dân huyện U Minh cấp cho ông Ngô Văn M tại thửa số 149 có diện tích là 4.300 m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/5/1995 của Ủy ban nhân dân huyện U Minh cấp cho ông Nguyễn Văn L tại thửa số 150 có diện tích là 2.250 m2. Tuy nhiên, theo bản đo vẽ ngày 5/12/2017, thì diện tích thực tế các bên sử dụng đều có ít hơn diện tích được cấp , đất của ông L có diện tích theo đo đạ c là 2.002,4 m2, còn đất của ông M có diện tích là 4.013,4 m2, (ông M và ông L đều thống nhấ t vớ i bả n vẽ ngà y 5/12/2017 này).

Xét quá trình sử dụng đất , ông M sử dụ ng lâu dà i , liên tụ c, trên đấ t có trồ ng nhiề u loạ i cây lâu năm như dừ a, me; con rể ông L thì trồng mai, trồ ng gừ a. Song, diệ n tí ch đấ t tranh chấ p có nằ m trong Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t của ông M hay không đề u kh ông T1hể xá c đị nh đượ c , bở i lẽ thờ i điể m cấ p Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t cho ông M và ông L vào năm 1995 là cấp đại trà theo kê khai, và cũng không có kí ch thướ c chiề u ngang, chiề u dà i cụ thể . Trong khi từ suố t quá trì nh giả i quyế t vụ á n , cũng như tại phiên tòa phúc thẩm , chính bà Thêm là mẹ ruột của ông L và bà G (vợ ông M) đều xác định khi cho đất anh L là cho chiề u ngang mặ t tiề n và hậ u là 37 mét; còn bà G khẳ ng đị nh tạ i phiên tò a phú c thẩ m là mẹ bà Thêm đã cho bà G mặ t tiề n là mộ t công rưỡ i tầ m lớ n . Như vậ y, căn cứ và o b ản vẽ ngày 5/12/2017, nế u cộ ng phầ n mặ t tiề n tranh chấ p 6,2 mét (giáp sông Khánh Hộ i) thì đất tranh chấp của ông L mớ i đủ chiề u ngang 37 mét (như bà Thêm xá c đị nh); còn đất của ông M có chiều ngang một công rưỡi mặt tiề n như bà G trình bày là bằng 54 mét (36 mét + 18 mét), như vậ y nế u so vớ i theo bả n vẽ ngày 5/12/2017 thì phần đất của ông M là 54.7 mét (thì nhiề u hơn so vớ i lờ i trì nh bà y của bà G – ngườ i đượ c bà Thêm cho đấ t ). Chính vì vậy, ông L đò i ông M trả lại diệ n tí ch đấ t là có cơ sở chấ p nhậ n . Mặ t khá c, vụ việc tranh chấp giữa ông M và ông L đượ c Ủ y ban nhân dân xã Khá nh Hộ i hò a giả i năm 2016, có sự tham gia của gia đì nh cá c bên, ông M và ông L thố ng nhấ t ranh giớ i các bên, tiế n hà nh cấ m ranh làm chuẩn, nhưng sau đó ông M tự nhổ bỏ cá c trụ đá không T1hự c hiệ n thỏ a thuậ n, dẫ n đế n tiế p tụ c tranh chấ p. Nay ông M yêu cầ u giữ y phầ n đấ t tranh chấ p cho ông sử dụ ng là không có cơ sở chấ p nhậ n.

Trên phần đất tranh chấp có căn nhà vách lá, nề n đấ t (ngang 2,5 mét dài 4,6 mét) của bà Tr mượ n đấ t cấ t (hiệ n nay bà Trong về quê không cò n ở ) và căn nhà vách thiết , nề n đấ t (ngang 3,6 mét, dài 5 mét) của ông Sơn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc A thuê củ a ông M. Xét thấy, phần đất tranh chấp buộc ông M trả lại cho ông L. Do đó buộc bà Tr, ông T1 và bà A tháo dỡ di dời toàn bộ nhà trả lại đất cho ông L. Quá t rình giải quyết vụ án , bà Tr, ông T1 và bà A cũng đồng ý và không yêu cầu gì, nên không đặ t ra xem xé t.

Đối với 02 cây gừa và 07 cây mai vàng do anh Đào Quốc T trồng và anh Tuấn xác định đã di dời toàn bộ khỏi phần đất tranh chấp từ giai đoạ n xé t xử sơ thẩ m, nên cấ p phú c thẩ m không xem xé t . Trên phần đất tranh chấp ông Ngô Văn M có trồng 08 cầy dừa và 04 cây me, từ cấ p sơ thẩ m ông M không yêu cầu liên quan đến cây trồng, nhưng ông L xác định ông được nhận lại phần đất thì ông hoàn lại cho ông M số tiền 500.000 đồng để ông M khai thác cây khỏi phần đất của ông, nên cấ p sơ thẩ m ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợ p.

Về chi phí đo đạ c , thẩ m đị nh 1.500.000 đồ ng ông L đã nộ p, ông M phải hoàn trả lại cho ông L là phù hợp.

Do á n sơ thẩ m tuyên về nghĩ a vụ hoà n trả tiề n củ a cá c bên nhưng kh ông T1uyên về lã i suấ t chậ m trả , nên cấ p phú c thẩ m cầ n bổ sung nộ i dung nà y cho phù hợ p vớ i quy đị nh chung củ a pháp luật.

Đối với ông L và ông M đều là người cao tuổi, tại cấp sơ thẩm các ông chưa có đơn xin miễ n á n phí , đến cấp phúc thẩm các ông mớ i nộ p đơn xin miễ n á n phí theo luậ t đị nh, nên cầ n xé t miễ n án phí cho ông L và ông M theo quy đị nh Điề u 12, 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Vì vậy, cầ n sử a á n sơ t hẩ m về á n phí là phù hợ p luậ t đị nh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợ p pháp cho ông Ngô Văn M đề nghị chấ p nhậ n khá ng cá o củ a ông M, đề nghị giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp cho ông M là không có căn cứ nên không chấp nhận.

Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M, đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Việ c xé t xử vắ ng mặ t các đương sự không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm được thự c hiệ n theo trình tự thủ tục luật định.

Những quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308của Bộ luật tố tụng dân sự; Điề u 148 Bộ luậ t tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khá ng cá o củ a ông Ngô Văn M. Sử a Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần án phí.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L đối với ông Ngô Văn M về việc yêu cầu ông Ngô Văn M trả lại đất.

Buộc ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị G khai thác 08 cây dừa và 04 cây me trả lại đất cho ông Nguyễn Văn L phần đất có diện tích, vị trí đất theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh như sau:

- Một cạnh tiếp giáp với Sông Khánh Hội dài 6,2 mét.

- Một cạnh tiếp giáp với Đê bao khoanh rừng dài 2,5 mét.

- Một cạnh tiếp giáp với đất ông Nguyễn Văn L dài 65,4 mét.

- Một cạnh tiếp giáp với đất ông Ngô Văn M dài 65,9 mét.

Tổng diện tích là 284,5 m2, đất thuộc ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh,

tỉnh Cà Mau. (Kèm theo bản vẽ ngày 5.12.2017).

2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn L hỗ trợ cho ông Ngô Văn M khai thác 08 cây dừa và 04 cây me với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghì n đồ ng).

3. Buộc bà Trần Thị Tr tháo dỡ , di dời căn nhà (ngang 2,5 mét dài 4,6 mét), lợp lá, vách lá, nền đất, khung nhà bằng cây gỗ địa phương; buộc ông Sơn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc A tháo dỡ , di dời căn nhà (ngang 3,6 mét, dài 5 mét), vách thiết, lợp tol lạnh, nền đất, khung nhà bằng cây gỗ địa phương để trả lại phầ n đất cho ông Nguyễn Văn L.

4. Về chi phí xem xé t thẩ m đị nh tại chỗ, đo đạ c, ông Ngô Văn M phải chịu, ông Nguyễ n Văn L đã nộ p, ông M phải hoàn trả cho ông L số tiền 1.500.000 đồ ng.

Kể từ ngà y có đơn yêu cầu thi hàn h án (của người được thi hành án ), nế u ngườ i phả i thi hà nh á n kh ông T1hi hà nh, thì còn phải chịu thêm lãi suất phát sinh trên trên mứ c lã i suấ t quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 468 Bộ luậ t dân sự năm 2015.

5. Về á n phí :

Án phí sơ thẩ m: Miễ n toàn bộ cho ông Nguyễ n Văn L , ông L đã dự nộ p 200.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 05547 ngày 01/3/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh đượ c hoà n lạ i.

Án phí phúc thẩm : Ông Ngô Văn M không phả i chị u , đã dự nộ p 300.000 đồ ng theo biên lai 0012041 ngày 18.6.2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh đượ c nhậ n lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án, hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ