- Tranh chấp gì? "Đào Xuân H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Bị cáo Đào Xuân H có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng nuôi 02 con của bị hại là A (sinh ngày 24-6-2013) và B (sinh ngày 14-8-2017) mỗi cháu là 1.
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T A N NHÂN DÂN
NG A
I
N A
T NAM T NH NH NH
c p - T do - nh ph c
[
Bản án số: 170/2022/HS-PT Ngày: 28.9.2022
NHÂN DANH
NƯỚ
N
A
N A
T NAM
T A N N ÂN DÂN T N
N
N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy.
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt - Thư ký TAND tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà
Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Đào Xuân H do có kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H và kháng cáo của đại diện bị hại I đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
ào uân ; sinh ngày 12-01-1983 tại thành phố Z, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: X, phường Y, thành phố Z, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nhân viên M; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông S (chết) và bà R (chết); có vợ X, sinh năm 1983 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Người đại diện hợp pháp của bị hại P:
- Chị I, sinh năm 1988; A, sinh ngày 24-6-2013; B, sinh ngày 14-8-2017; nơi cư trú: I, phường K, thành phố L, tỉnh Bình Định; là vợ và 02 con ruột của bị hại; chị I. (Có mặt).
- Ông K, sinh năm 1958; bà L, sinh năm 1962; Cùng cư trú: H, phường K, thành phố L, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và H ích hợp pháp cho người bị hại K: Ông Z – Luật sư Văn phòng Luật sư TC thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Định. (Có mặt).
N DUN Ụ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 11-6-2021, Đào Xuân H (không có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô-tô biển số 77L1-061.01 đi uống bia rượu với bạn. Đến khoảng 23 giờ 15 phút, H điều khiển xe mô-tô đi về nhà. Khi đến đoạn đường trước lô 16, đường IH, H điều khiển xe mô-tô chạy sang phần đường bên trái va chạm với xe mô-tô biển số 77L1-687.08 do P điểu khiển đi đúng phần đường theo hướng ngược lại, gây ra tai nạn. Hậu quả làm P bị thương được đưa đi cấp cứu và chết lúc 11 giờ 40 phút ngày 12-6-2021.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 196/2021/PY-TT ngày 15-6-2021, Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân chết của P là do chấn thương sọ não, vỡ sọ chảy máu nội sọ chèn ép não điều trị không hồi phục. Kết quả đo nồng độ cồn cho Đào Xuân H vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12-6-2021 tại Đội Cảnh sát Giao thông – Trật tự Công an thành phố Z là 0,470mg/l khí thở.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đào Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Đào Xuân H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, 593 của Bộ luật Dân sự;
3.1. Buộc Đào Xuân H có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng nuôi 02 con của bị hại là A (sinh ngày 24-6-2013) và B (sinh ngày 14-8-2017) mỗi cháu là 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 6-2021 cho đến khi cháu A, cháu B đủ 18 tuổi.
Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3.2. Buộc Đào Xuân H phải bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho ông K, bà L, chị I, A, B với số tiền là 104.300.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
- Ngày 24.5.2022, bị cáo Đào Xuân H kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Ngày 22.05.2022, đại diện gia đình bị hại chị I kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng tiền bồi thường thiệt hại đối với bị cáo.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo; Tăng mức cấp dưỡng hàng tháng 500.000đ. Buộc bị cáo cấp dưỡng mỗi cháu là; Tăng khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần 30 tháng lương. Buộc bị cáo bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần tổng 100 tháng lương cơ sở.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho bị hại trình bày: Về hình phạt: đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị hại việc tăng hình phạt. Về dân sự: đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận tiền cấp dưỡng mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng; Tai nạn xảy ra do lỗi hoàn toàn của bị cáo nên đề nghị chấp nhận bồi thường tiền tổn thất tinh thần 100 tháng lương cơ sở.
N ẬN N
A TOÀ N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Bị cáo Đào Xuân H đã điều khiển xe mô-tô biển số 77L1-061.01 trong tình trạng không có giấy phép lái xe và đã uống bia nồng độ cồn là 0,470mg/l khí thở. Do không làm chủ được tay lái và lấn sang phần đường bên trái nên bị cáo đã để xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm với xe mô-tô biển số 77L1-687.08 do P điểu khiển đi đúng phần đường theo hướng ngược lại, gây ra tai nạn. Hậu quả làm P chết do chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo đã vi phạm các khoản 8, 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ đúng pháp luật.
[2] Kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H và bị hại I trong hạn luật định nên chấp nhận. HĐXX xét thấy:
Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Đào Xuân H 18 tháng tù là phù hợp với các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù bị cáo đã nộp thêm 20.000.000đ để khắc phục hậu quả thêm nhưng xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, xét mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với hành vi do bị cáo gây ra nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại về phần hình phạt.
Xét yêu cầu tăng tiền bồi thường thiệt hại: Bị cáo và bị hại thống nhất bị cáo đã bồi thường 120.000.000đ tiền mai táng và 11.704.000đ tiền sửa xe mô tô cho chị I. Tại phiên tòa, chị I yêu cầu bị cáo tăng mức cấp dưỡng nuôi 02 con của P, mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng, bị cáo thống nhất theo yêu cầu chị I nên HĐXX ghi nhận. Ngoài ra chị I yêu cầu tăng đền bù tổn thất tinh thần với mức 100 lần mức lương cơ sở là 149.000.000 đồng. HĐXX xét thấy thu nhập của vợ chồng bị cáo là 6.200.000 đồng/tháng nên chấp nhận yêu cầu của chị I, tăng đền bù tổn thất tinh thần với mức 80 lần mức lương cơ sở là 119.200.000 đồng.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT N :
1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H và chị I về phần hình phạt. Chấp nhận kháng cáo của chị I về phần bồi thường thiệt hại. Sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Đào Xuân H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, 593 của Bộ luật Dân sự;
2.1. Bị cáo Đào Xuân H có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng nuôi 02 con của bị hại là A (sinh ngày 24-6-2013) và B (sinh ngày 14-8-2017) mỗi cháu là 1.500.000 đồng/tháng, kể từ tháng 6-2021 cho đến khi cháu A, cháu B đủ 18 tuổi.
Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.2. Bị cáo Đào Xuân H phải bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho ông K, bà L, chị I, A, B với số tiền là 119.200.000 đồng.
2.3. Tiếp tục tạm giữ 20.000.000 đồng bị cáo Đào Xuân H đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001015 ngày 20/9/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí:
3.1. Bị cáo Đào Xuân H phải chịu 200.000đ án phí HSPT.
3.2. Buộc bị cáo Đào Xuân H phải chịu án phí về cấp dưỡng là 300.000 đồng và án phí về bồi thường tổn thất về tinh thần là 4.960.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: TM. - Vụ GĐKT1-TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - CQHSNVCSCA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT CA Tp. Z; - Cơ quan THAHS Tp. Z; - Chi cục THADS Tp. Z; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định, - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | ỒN ÉT Ử P Ú T ẨM T ẨM P N – TỌA P ÊN T A Nguyễn Thị Thanh ình |