vanban.org

Bản án 170/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị LTH đư c ly hôn anh NVD.

Về con chung: Giao cháu NBA, sinh ngày 08/9/2014 cho chị LTH trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng. Tạm hoãn việc cấp dư ng nuôi con chung cho anh NVD. Anh NVD có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai đư c ngăn cấm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị LTH đư c ly hôn anh NVD.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-10-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Nguyệt

2. Ông Nguyễn Văn Sấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án, TAND huyện Yên Định, Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND huyện Yên Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cường – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị LTH - Sinh năm: 1993

ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

Ch ở hiện nay: Thôn D, xã T, Yên Định, Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh NVD - Sinh năm: 1994

ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

Hiện đang đi nghĩa vụ quân sự tại Đội Vệ Binh, Tiểu đoàn Kỹ thuật hậu cần sân bay, Trung đoàn 927, Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không không quân. Địa chỉ: Thôn 7, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên tòa có mặt chị LTH, vắng mặt anh NVD.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/3/2019, bản tự khai ngày 19/4/2019 và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị LTH trình bày: Chị và anh NVD kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng kết hôn ngày 01/8/2014 tại UBND xã Đ, huyện Yên Định. Sau khi kết hôn v ch ng chỉ chung sống đư c khoảng 1 năm r i phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là do anh NVD chơi bời cờ bạc, chị đã khuyên can nhưng anh không nghe mà còn chửi bới chị, bố mẹ hai bên cũng đã phân t ch, khuyên bảo nhưng anh NVD v n không sửa đ i, ngày càng lấn sâu vào con đường cờ bạc. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị LTH đã b về nhà bố mẹ đ ở từ năm 2015 đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm v ch ng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đư c ly hôn anh NVD.

Về con chung: Chị LTH khai v ch ng có 01 con chung tên là NBA, sinh ngày 08/9/2014, cháu đang ở với chị LTH. Khi v ch ng ly hôn chị LTH có nguyện v ng đư c trực tiếp nuôi dư ng cháu NBA và không yêu cầu anh NVD cấp dư ng nuôi con chung c ng chị.

Về tài sản chung và công n chung: Chị LTH không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá tr nh giải quy t v án, Tòa án đ nhiều l n triệu t p anh NVD nh ng anh không đ n làm việc, ngày 1 / /201 Tòa án ph i h p v i chính quyền địa ph ơng đ n gặp anh NVD tại nhà b mẹ đẻ của anh, yêu c u anh NVD làm bản tự khai nh ng anh không làm, cũng không nh n và ký vào bất kỳ văn bản nào của Tòa án, nên không có ý ki n của anh trong hồ sơ v án.

Qua xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thu n cũng như quá trình làm việc tại gia đình anh NVD, bố anh NVD là ông Ngô Văn Tài cho biết: Anh NVD và chị LTH có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 2014, sau khi kết hôn v ch ng ở chung với gia đình ông, cuộc sống diễn ra bình thường. Nhưng do nhiều lý do v ch ng anh NVD không h p nhau, bất đ ng quan điểm sống. Anh NVD có chơi bời cờ bạc, ký cắm nhiều tài sản của gia đình nên v ch ng nảy sinh mâu thu n nên đã không sống c ng nhau nữa. Chị LTH c ng cháu nh là NBA về nhà ông bà ngoại sinh sống từ tháng 3/2015 đến nay. Sau đó anh NVD đi nghĩa vụ quân sự, hiện nay đang đóng quân tại sân bay Kép, tỉnh Bắc Giang, thỉnh thoảng nghỉ phép về nhà. Ngày 19/4/2019 anh NVD nghỉ phép về nhà đến ngày 26/4/2019 mới đi, đã nhận đư c giấy triệu tập của Tòa án, ông Tài cam kết s động viên anh ra Tòa án giải quyết, đ ng ý nhận toàn bộ các văn bản, tài liệu của Tòa án để giao lại cho anh NVD.

Ngày 07/8/2019 Tòa án tiếp tục vào gia đình ông Tài để làm việc, ông Tài xác định thời gian v ch ng anh NVD ly thân đã kéo dài, tình cảm v ch ng không còn, gia đình cũng đã khuyên can, tâm sự c ng anh NVD và cho biết gia đình và anh NVD đều có nguyện v ng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho v ch ng anh.

Tại phiên tòa, chị LTH v n giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Hội đ ng xét xử giải quyết cho chị đư c ly hôn anh NVD.

Ý ki n của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, HĐXX đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án.

Tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa kiến nghị: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án chưa thực hiện đầy đủ việc xác minh địa chỉ của bị đơn để gửi các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định; từ khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa không đảm bảo thời gian 15 ngày để Viện kiểm sát nghiên cứu h sơ là vi phạm khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị LTH đư c ly hôn anh NVD.

Về con chung: Đề nghị giao cháu NBA cho chị LTH trực tiếp nuôi dư ng, anh NVD không phải cấp dư ng nuôi con chung.

Về án phí: Đề nghị Tòa án xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh NVD là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Yên Định, Thanh Hóa nên việc chị LTH yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Định giải quyết ly hôn là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với anh NVD tại gia đình anh, nhưng anh NVD không khai báo, không làm việc hay nhận bất kỳ giấy tờ gì của Tòa án. Do đó cán bộ Tòa án đã giao toàn bộ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bố đ anh NVD là ông T, ông T cam kết s khuyên bảo, đ ng thời s giao lại các văn bản đó cho anh NVD. Khi Tòa án yêu cầu cung cấp địa chỉ ch nh xác của anh NVD để Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo, anh NVD từ chối không cung cấp; về ph a gia đình anh NVD, bố mẹ anh NVD ban đầu không đ ng ý cho chị Hảo ly hôn anh NVD nên đã không cung cấp địa chỉ, nhưng sau khi Viện kiểm sát thực hiện xác minh tại gia đình anh NVD ngày 13/9/2019, theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án tiếp tục vào gia đình anh NVD xác minh địa chỉ thì bà D là mẹ đ anh NVD mới liên hệ ra đơn vị nơi anh NVD đóng quân và cung cấp đư c ch nh xác địa chỉ của anh NVD. Sau đó Tòa án đã triệu tập anh NVD theo địa chỉ mới, nhưng anh NVD v n cố tình không có mặt. Do vậy, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát cho rằng Tòa án đã không thực hiện việc xác định địa chỉ của bị đơn để bị đơn thực hiện quyền của mình là nhận định không đúng, không căn cứ vào diễn biến thực tế của vụ án.

Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở khẳng định anh NVD đã biết việc Tòa án giải quyết vụ án nhưng cố tình trốn tránh, nên Tòa án v n tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt anh NVD theo thủ tục chung.

Trong vụ án này Tòa án đã gửi h sơ sang Viện kiểm sát từ ngày 12/8/2019, nếu t nh đến phiên xét xử đầu tiên ngày 21/8/2019 (phiên tòa hoãn) thì Tòa án đã chuyển h sơ không đủ 15 ngày, nhưng từ khi Viện kiểm sát nhận đư c h sơ đến khi xét xử ch nh thức vào ngày 17/10/2019 là hơn 02 tháng. Hội đ ng xét xử nhận định trong trường h p này không ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu h sơ của Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án không vi phạm nghiêm tr ng thủ tục tố tụng nên tiến hành xét xử bình thường.

Ngày 21/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Định đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị LTH và anh NVD, anh NVD đã đư c triệu tập h p lệ nhưng vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa.

Ngày 18/9/2019, Tòa án mở lại phiên tòa, anh NVD đã đư c triệu tập h p lệ nhưng v n vắng mặt không có lý do, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án đã ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ, b sung vào h sơ vụ án.

Ngày 17/10/2019 Tòa án tiếp tục phiên tòa sau khi đã thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết trong thời gian ngừng phiên tòa, các đương sự đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ. Riêng anh NVD sau khi ngừng phiên tòa, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh NVD tại nơi anh NVD đóng quân (thôn 7, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang), đ ng thời gửi Công văn yêu cầu đơn vị trực tiếp quản lý anh NVD là Đại đội Vệ Binh, Tiểu đoàn Kỹ thuật hậu cần sân bay, Trung đoàn 927, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không không quân tạo điều kiện để anh NVD đư c về tham gia phiên tòa đúng thời gian như đã thông báo, các văn bản này đã đư c anh NVD và đơn vị quản lý anh NVD nhận đư c nhưng không có phản h i gì, tại thời điểm xét xử anh NVD v n không có mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh NVD.

Về hôn nhân: Chị LTH và anh NVD kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Định Long, huyện Yên Định ngày 01/8/2014 nên đây là hôn nhân h p pháp. Trong thời gian chung sống v ch ng phát sinh nhiều mâu thu n, nguyên nhân chủ yếu d n đến mâu thu n là do anh NVD thường xuyên chơi bời cờ bạc, đã đư c gia đình và chị LTH khuyên can nhưng anh v n không thay đ i. Từ tháng 3/2015 chị LTH và anh NVD đã không sống c ng nhau, ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau.

Quá trình giải quyết anh NVD biết Tòa án đang giải quyết vụ án, đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ nhiều lần mà v n không đến Tòa án làm việc, khi Tòa án đến gia đình gặp để yêu cầu làm việc thì anh từ chối làm việc với Tòa án, do vậy thuộc trường h p cố tình trốn tránh. Qua trao đ i anh NVD cũng có ý muốn v ch ng về đoàn tụ nhưng không có biện pháp nào để cải thiện tình cảm v ch ng. Hiên nay chị LTH v n yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đư c ly hôn anh NVD.

Hội đ ng xét xử xét thấy: Mâu thu n v ch ng đã trầm tr ng, mục đ ch hôn nhân không đạt đư c, vì vậy áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị LTH đư c ly hôn anh NVD.

Về con chung: Chị LTH và anh NVD có 01 con chung là cháu NBA, sinh ngày 08/9/2014. Hiện nay cháu n đang còn nh , đang do chị LTH trực tiếp nuôi dư ng. Để bảo đảm cho cháu có cuộc sống bình thường, không bị xáo trộn, cần thiết tiếp tục giao cháu NBA cho chị LTH trực tiếp nuôi dư ng, chị LTH không yêu cầu anh NVD cấp dư ng nên không xem xét.

Về tài sản chung và công n chung: Chị LTH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Về án ph : Chị LTH phải chịu án ph ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị LTH đư c ly hôn anh NVD.

2. Về con chung: Giao cháu NBA, sinh ngày 08/9/2014 cho chị LTH trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng. Tạm hoãn việc cấp dư ng nuôi con chung cho anh NVD.

Anh NVD có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai đư c ngăn cấm.

Vì l i ch của con, các bên đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đ i người trực tiếp nuôi con, cấp dư ng nuôi con sau khi ly hôn.

3. Về án ph : Chị LTH phải chịu 300.000đ án ph ly hôn sơ thẩm, nhưng đư c trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án ph tại biên lai thu số AA/2015/0003221 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. (Chị Hảo đã nộp đủ án ph ).

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị LTH đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh NVD đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc ngày bản án đư c niêm yết.

Cỡ chữ