- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 170/2018 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TuyênbốbịcáoPhạmVănTphạmtội“Tàngtrữtráiphépchấtmatúy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 170/2018/HSST Ngày: 11/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Cư và bà Đặng Thị Hường.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Thư ký Tòa án - Toà án nhân dân thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại Nhà Văn hóa khu 15 phường Phạm Ngũ L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân thành phố H xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 159/2018/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2018/HSST-QĐ gày 27/8/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1980. Đăng ký hộ khẩu: B64- thôn Thanh N, xã Thanh B, huyện C, TP. Hà Nội; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Phạm Hồng V, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1947 (ông V và bà Th đều được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 28/HSST ngày 01/3/2011, Tòa án nhân dân huyện C-TP. Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bị cáo đã nộp án phí và tiền sung công quỹ Nhà nước ngày 11/6/2011, chấp hành xong hình phạt ngày 19/01/2013). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2018, chuyển tạm giam từ ngày 02/6/2018 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1970;
Cư trú tại: Số nhà 5/5/61 phố Trần Phú, thành phố H, tỉnh Hải Dương;
2. Ông Lê Văn Ch, sinh năm 1959;
Cư trú tại: Khu 10 phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h30phút ngày 31/5/2018, tại ngã tư Hải T, phường Hải T, thành phố H. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố H bắt quả tang Phạm Văn T đang cất giấu trái phép trong túi quần bên phải đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (0,5x1,5 cm) bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. T khai nhận là Heroine, cất giấu để sử dụng. Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda SH mode màu vàng nâu biển số 17B3- 111.79 trước sự chứng kiến của anh Lê Văn Ch ở khu 10, phường B và anh Nguyễn Xuân H ở số 5/5/61 Trần P- P. Trần P- thành phố H. Quá trình điều tra, Phạm Văn T khai ngày 31/5/2018 T mượn của chị Cao Thị Nh ở Phú L- Đông H- Thái Bình chiếc xe mô tô hiệu Honda SH mode màu vàng nâu biển số 17B3- 111.79 và điều khiển từ Thái Bình sang thành phố H chơi. Do bị nghiện chất ma túy nên khoảng 14h30’ cùng ngày, T đến khu vực nhà hàng 559 phường B, thành phố H mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 200.000đ cất giấu vào túi quần bên phải đi tìm nơi sử dụng, khi T điều khiển xe mô tô đi đến ngã tư Hải T, phường Hải T, thành phố H thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng như nêu trên, 01 xe mô tô hiệu Honda SH mode màu vàng nâu biển số 17B3- 111.79, trước sự chứng kiến của anh Lê Văn Ch và anh Nguyễn Xuân H.
Tại kết luận giám định số 368/KLGĐ- PC54 ngày 02/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng ghi thu của Phạm Văn T, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,114gam, là loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục I, STT: 9 Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Về vật chứng: Đối với 0,058 gam Heroine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 368/KLGĐ- PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hiện đang quản lý tại kho vật chứng của Công an thành phố H chờ xử lý theo quy định. Cơ quan CSĐT-Công an thành phố H trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda SH mode màu vàng nâu biển số 17B3- 111.79 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Cao Thị Nh.
Tại Cáo trạng số 167/CT-VKSTPHD ngày 14/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (được viết tắt là BLHS).
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 31/5/2018; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 0,058 gam Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luậtphívàlệphísố97/2015/QH13ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ QuốcHội.Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định (bút lục số 17, 26-27); phù hợp với lời khai người làm chứng (bút lục số 42-50) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h30 phút ngày 31/5/2018, tại ngã tư Hải T, phường Hải T, thành phố H, Phạm Văn T đang cất giấu trái phép trong người 0,114 gam Heroine để sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy-Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, có tác hại lớn đến sức khỏe con người và là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc bị cáo cất giấu trái phép 0,114 gam Heroine trong người để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo coi thường pháp luật nên cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS) của bị cáo thì thấy: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại đi vào con đường phạm tội. Do vậy, xác định bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn; ngoài ra bị cáo có bố, mẹ đẻ đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; đó là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và không tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,058 gam Heroine hoàn lại sau giám định. Xét Heroine là chất cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Những vấn đề khác:
- Đối với đối tượng đã bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T tại khu vực 559, phường B, thành phố H ngày 31/5/2018, T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 17B3-111.79, nhãn hiệu HONDA SHMODE màu nâu. Quá trình điều tra xác định chiếc xe nói trên là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị Nh. Chị Nh cho T mượn nhưng không biết việc T sử dụng làm phương thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, ngày 08/6/2018 Cơ quan CSĐT-Công an thành phố H đã trả lại xe và đăng ký xe cho chủ sở hữu là phù hợp qui định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy banthườngvụ Quốc Hội.
1.TuyênbốbịcáoPhạmVănTphạmtội“Tàngtrữtráiphépchấtmatúy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 31/5/2018.
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,058 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 368/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật - Công an tỉnh Hải Dương (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 20/8/2018).
3.Vềánphí:BuộcbịcáoPhạmVănTphảichịu200.000đánphíhìnhsựsơthẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2018)./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố H. - VKSND tỉnh Hải Dương. - Cơ quan CSĐT-Công an thành phố H. - Chi cục THADS thành phố H. - Bị cáo; - Sở tư pháp. - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thị Tố Uyên |