vanban.org

Bản án 170/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 15/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2018/HS-ST
Ngày: 15/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thành

Ông Phạm Văn Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Hoàng P – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đăng Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 15/6/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2018/TLST-HS ngày 01/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2018/QĐXXST-HS ngày 04/6/2018 đối với bị cáo: ĐỒNG VĂN P , sinh năm 1975; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn B và bà Đỗ Thị T; có vợ là Đồng Thị H và 02 con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 249 ngày 05/4/2018 do Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa P cung cấp thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị bắt ngày 01/4/2018 (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Đồng Văn N, sinh năm 1978

HKTT: Thôn Đ, xã Hương L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở: Số S ngõ B, phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12h00 ngày 01/4/2018, Đồng Văn P đi xe máy từ chỗ làm xây dựng ở đối diện BigC Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội sang khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh để mua ma túy sử dụng. Tại Từ Sơn, P gặp một thanh niên đứng ở đầu ngõ có đường tàu hỏa đi qua. P có đưa 150.000đồng cho người thanh niên trên và nhờ người này mua hộ P gói ma túy với giá 150.000đồng. Người thanh niên này đồng ý và đưa cho P một gói nhỏ màu vàng, bên trong có chứa ma túy. P đút gói ma túy trên vào túi quân bên trái và đi xe máy về. Khoảng 13h cùng ngày, khi về đến khu vực đối điện điếm canh đê thuộc tổ 25, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra thu giữ 01 gói heroin, 01 xe máy Honda biển kiểm soát 99C1-235.73.

Tại Kết luận giám định số 3342 ngày 10/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,158gam.

Tại Bản cáo trạng số 196/CT-VKS-LB ngày 30/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã truy tố Đồng Văn P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đồng Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luật hành vi của bị cáo Đồng Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thái độ khai báo là thành khẩn, ăn năn hối cải. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo P mức án từ 12-15 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về tang vật: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,158gam heroin. Đối với 01 xe máy BKS 99C1-235.73 là tài sản của anh Đồng Văn Nam vì vậy đề nghị trả lại cho anh Nam xe máy trên.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đồng Văn P tại phiên toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, bản kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13h ngày 01/4/2018, tại khu vực điếm canh đê thuộc tổ 25, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Đồng Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,158gam ma túy loại Heroin mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa P , ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý của Nhà nước và xã hội nên phải xử lý nghiêm khắc.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian giúp bị cáo cai nghiện ma túy và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo nhân thân chưa có tiền sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về tang vật: 0,158gam heroin thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen trắng BKS 99C1-235.73, quá trình điều tra thể hiện đăng kí chính chủ của anh Nguyễn Thế Anh, sinh năm 1995, HKTT: Thôn Đại Vi, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Thế Anh đã bán lại chiếc xe trên tại chợ xe máy cho người không quen biết. Năm 2008, anh Đồng Văn N – em trai của bị cáo P mua xe máy trên làm P tiện đi lại. Việc P mượn xe của anh N đi mua ma túy, anh N hoàn toàn không biết. Quá trình điều tra thể hiện chiếc xe máy không có trong dữ liệu xe vật chứng và anh N có đơn đề nghị được nhận lại chiếc xe vì vậy Hội đồng xét xử thấy trả lại cho anh N chiếc xe trên là đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giải quyết về tang vật là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Đồng Văn P tại khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh, do P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

1. Tuyên bố bị cáo Đồng Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Đồng Văn P 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2018.

2. Về tang vật:

Tịch thu tiêu hủy 0,158gam heroin hiện có tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo phiếu nhập vật chứng ngày 24/5/2018.

Trả lại cho anh Đồng Văn Nam 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen trắng BKS 99C1-235.73 đã qua sử dụng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2018.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ