vanban.org

Bản án 17 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-D"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N N

C NG H

H

H NGH V T N M H N H G

Đ c p - T do - H nh ph c T NH B NH

NG Bản án số: …./2022/HNGĐ - ST Ngày 21-6-2022 V/v ly hôn.

NHÂN DANH

N

NG H

H

H NGH V T N M

T

N NH N N H N H G , T NH B NH

NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Quang;

Ông Nguyễn Trường Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ: Khóm 7, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Hoàng D, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

N

NG VỤ N:

- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Mai Thị T trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Về hôn nhân: Bà Mai Thị T và ông Võ Hoàng D chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương vào ngày 13/02/2014. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc, được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay, nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông Võ Hoàng D.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông D có 01 người con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 07/6/2011. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong bản tự khai bị đơn ông Võ Hoàng D trình bày:

Về hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của bà T về thời gian chung sống, kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Nay, bà T xin ly hôn thì ông D đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông D có 01 người con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 07/6/2011. Khi ly hôn ông D thống nhất giao con chung cho bà T nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật. HĐXX thực hiện khai mạc phiên toà, phần thủ tục, phần tranh tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Bà Mai Thị T và ông Võ Hoàng D chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương vào ngày 13/02/2014. Bà T và ông D đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên nguyên đơn tự nguyện xin ly hôn với bị đơn. Bị đơn cũng đồng ý ly hôn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Ông Võ Hoàng D và bà Mai Thị T có 01 người con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 07/6/2011. Khi ly hôn bà T xin được nuôi con, ông D cũng thống nhất giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Tại bản tự khai cháu T1 cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Nên, đề nghị HĐXX giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH

T

N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Mai Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Hoàng D, bị đơn ông D hiện cư trú tại xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Mai Thị T và ông Võ Hoàng D chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương vào ngày 13/02/2014. Bà T và ông D đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên nguyên đơn tự nguyện xin ly hôn với bị đơn. Tại bản tự khai bị đơn cũng thống nhất việc mâu thuẫn vợ chồng và đồng ý ly hôn với nguyên đơn. Nên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

[3] Về con chung: Ông Võ Hoàng D và bà Mai Thị T có 01 người con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 07/6/2011. Khi ly hôn bà T xin được nuôi con, ông D cũng thống nhất giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Tại bản tự khai cháu T1 cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Nên, HĐXX quyết định giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên x :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị T đối với bị đơn ông Võ Hoàng D về việc “Ly hôn”.

2. Về hôn nhân: Bà Mai Thị T được ly hôn với ông Võ Hoàng D.

3. Về con chung: Giao con chung Võ Hoàng T1, sinh ngày 07/6/2011 cho bà Mai Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Bà Mai Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008246 ngày 27/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ