vanban.org

Bản án 17

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tràng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ!
TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!

Bản án số: 17/2020/HSST Ngày: 29-4-2020

!

!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"tòa:"Ông!Huỳnh!Tòa

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông!Nguyễn!Viết!Xứng

Ông!Nguyễn!Thành!Hạnh!

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Tạ Văn Phú!- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2020/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao!Thành!L!(tên gọi khác: không),!sinh năm 1997; Nơi sinh: Nghệ An; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi cư trú: Ấp Minh H, xã Tân T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; con ông Cao Thanh B, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970. Bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1992 và nhỏ nhất sinh năm 2002.

- Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/12/2019 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*"Người"làm"chứng:"

- Ông Chu Văn N, sinh năm 1990

Trú tại: Ấp Dên D, thị trấn Tân Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ, ngày 16/12/2019, bị cáo Cao Thành L, sinh năm 1997 gọi điện thoại cho người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) ở tỉnh Bình Dương hỏi mua 800.000 đồng ma túy thì người đàn ông tên L hẹn gặp bị cáo L tại ngã tư Địa Chất thuộc thành thành phố Mới, tỉnh Bình Dương để giao ma túy. Sau đó, bị cáo L bắt xe đến ngã tư Địa Chất gặp người đàn ông tên L lấy 01 gói nilon bên trong chứa ma túy đá, bị cáo L mang gói ma túy đá về nhà rồi lấy ra một ít để sử dụng. Sáng ngày 17/12/2019 bị cáo L lấy một gói nilon đựng số ma túy đá còn lại bỏ vào túi quần bên phải và đi làm tại Công ty New Far Eastern của Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú thuộc khu phố Bàu Ké, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Công an huyện Đồng Phú kết hợp Công an Đồn Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú tuần tra trên địa bàn thấy L đang đi bộ khu vực cổng số 3 Công ty New Far Eastern có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra, Công an phát hiện trong túi quần bên phải của bị cáo L có 01 gói nylonmàu trắng có miệng kéo miết bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, bị cáo L khai nhận là ma túy đá do L mua về nhằm mục đích sử dụng nên Công an huyện Đồng Phú lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cao Thành L.

Vật!chứng!thu!giữ:!

- 01 (một) gói nilon màu trắng có miệng kéo miết, kích thước (3,8 x 7,7)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng;

Tại bản Kết luận giám định số 255/2019/GĐ-MT ngày 20/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:

Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nilon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7043 gam.

Tại Bản Cáo trạng số 24/CTr -VKS ngày 13/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Cao Thành L về tội “Tàng"trữ"trái" phép"chất"ma"túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cao Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”."""

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Cao Thành L mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 nămtù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên:

+ Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,5613 gam.

Ý kiến của bị cáo Cao Thành L: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau: !

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Thành L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 24/CTr -VKS ngày 13/3/2020 mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa, phù hợp kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 17/12/2019, bị cáo Cao Thành L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7043 gam Methamphetamine loại ma túy đá"tại Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố bị cáo Cao Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng điều khoản quy định của pháp luật.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vì động cơ cá nhân muốn ăn chơi, hưởng thụ, dấng thân vào con đường tệ nạn xã hội nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy như đã phân tích ở trên. Bản thân bị cáo là một thanh niên khỏe mạnh nhưng không lo làm ăn mà tự mình mua ma túy về để cất giấu và sử dụng, bị cáo đã tự mình dấng thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, thiết nghĩ cần xử bị cáo mức án nghiêm, bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này và nhằm đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Cao Thành L, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử phạt hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Vật chứng vụ án: Đối với mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,5613 gam cần tuyên tiêu hủy.

[6]Về trách nhiệm dân sự: không.!

[7]Về hình phạt bổ sung:!Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều"136 Bộ luật tố tụng hình sự" 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Cao Thành L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH!

1. Tuyên bố bị cáo Cao Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Cao Thành L 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2019.

3. Về hình phạt bổ sung: không.

4. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tiêu huỷ: 01 phong bì được niêm phong bên trong chứa 0,5613 gam ma túy.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều"136 Bộ luật tố tụng hình sự" 2015: Buộc bị cáo Cao Thành L phải nộp 200.000đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ