vanban.org

Bản án 17/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K phạm tội “Đánh bạc”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06(Sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2025 và phạt tiền bổ sung 12.000.000đồng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 26.000.000đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T và đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/HSST
Ngày 30/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hữu Ý.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Phương và bà Bùi Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Đình, Kiểm sát viên.

Ngày 30/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình; xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2025/TLST-HS ngày 24/12/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2026/QĐXXST-HS ngày 16/01/2026 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú thôn 2, xã Y, tỉnh Ninh Nình; Căn cước công dân số 0370850009xx; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Đinh Thị X(đều đã chết); có vợ là Lại Thị H1 (đã ly hôn); có 2 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 486 ngày 29/4/2025, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích cho thành viên trong gia đình; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2025 đến ngày 26/9/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

2. Nguyễn Văn C, sinh năm 1995; nơi cư trú thôn 8, xã Y, tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số 0370950095xx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1(đã chết) và bà Nguyễn Thị B; Vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2025 đến ngày 26/9/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Phùng Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú thôn 1A, xã Y, tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số 0370870074xx; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, thuộc Chi bộ Thôn 1A, Đảng bộ xã Y, tỉnh Ninh Bình, đã đình chỉ sinh hoạt đảng từ ngày 01/10/2025; con Phùng Văn L và bà Đinh Thị T2; Vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2025 đến ngày 26/9/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Nguyễn Trung K, sinh năm 1994; nơi cư trú xóm 1, xã Yên Từ, tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số 0370940113xx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Văn N và bà Mai Thị T1; Vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2025 đến ngày 26/9/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người làm chứng: Anh Lại Văn G; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 18/9/2025, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K đến nhà Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 ở thôn 2, xã Y, tỉnh Ninh Bình chơi, uống nước. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T rủ H, C, K đánh “Liêng” được thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý. Sau đó, T lấy 01 bộ bài Tú lơ khơ có sẵn ở nhà rồi cùng C, H, K ngồi tại nền phòng bếp nhà T đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền, cách thức đánh bạc và mức độ được thua như sau: Mỗi ván mỗi người chơi “chầu gà” 20.000 đồng, và được chia cho 03 quân bài. Sau đó bắt đầu từ người chia bài, người chơi lần lượt từ trái sang phải được quyền bỏ bài, “tố” thêm tiền tối đa là 200.000 đồng hoặc theo bằng tiền. Khi không còn người nào “tố” thêm thì sẽ đọ bài để xác định người có bài lớn nhất (được tính theo thứ tự đầu tiên là “Sáp” có 03 quân trùng nhau, tiếp theo là “Liêng” có 03 quân bài liên tiếp nhau, “Bộ đội” có 03 quân bài hình người, sau cùng là tổng điểm của 03 quân bài tính theo hàng đơn vị). Người nào có bài lớn nhất sẽ được toàn bộ số tiền “chầu gà” và “tố”.

Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H, Nguyễn Trung K cùng nhau đánh bạc đến 21 giờ 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 quân và số tiền 7.570.000 đồng, thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của Nguyễn Văn T số tiền 4.500.000 đồng.

Kết quả điều tra xác định, tổng số tiền Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K dùng vào việc đánh bạc là 13.070.000đồng, gồm: 7.570.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và 4.500.000 đồng thu giữ trong túi quần Nguyễn Văn T.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số 23/CT-VKSKV4 ngày 23/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình truy tố các bị cáo T, C, H và K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày Luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo T, C, H và K về tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, 38, 50, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2025 và phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều17, 35, 50, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; căn cứ thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H, xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn C Phùng Văn H, Nguyễn Trung K mỗi bị cáo từ 23.000.000đồng đến 26.000.000đồng.

Căn cứ khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 13.070.000 đồng tiền đánh bạc(vật chứng trên hiện do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, Ninh Bình đang quản lý).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo T, C, H, K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận, bào chữa. Nói lời sau cùng các bị cáo đều trình bày xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/9/2025, cùng tang vật, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/9/2025, tại nhà anh Nguyễn Văn T ở thôn 2, xã Y, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ đánh bạc trái phép, hình thức “Liêng” được thua bằng tiền đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày thị bị Công an xã Y phát hiện bắt quả tang thu giữ tổng số tiền đã và sẽ sử dụng để đánh bạc là 13.070.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội Đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

……

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Các bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T có mẹ đẻ được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì và bị cáo H có bố đẻ được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, hạng Ba, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, động cơ phạm tội của các bị cáo thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn T giữ vai trò chính trong vụ án, là người khởi xướng, chuẩn bị bộ bài để đánh bạc; số tiền dùng để đánh bạc nhiều nhất và có 01tiền sự, nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời hạn nhất định đủ để giáo dục, cải tạo. Ngoài hình phạt tù, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định.

Các bị cáo Nguyễn Văn C, Phùng Văn H, Nguyễn Trung K có vai trò thấp hơn bị cáo T và đều là những người bị rủ rê, nhưng cùng thực hiện tích cực hành vi đánh bạc. Bị cáo C có số tiền dùng để đánh bạc ít hơn bị cáo T, nhưng nhiều hơn hai bị cáo còn lại; tiếp đến là bị cáo H và bị cáo K. Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ để giáo dục, cải tạo. Do áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo C, H, K nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 13.070.000 đồng thu giữ của các bị cáo đây là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, 38, 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35, 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phùng Văn H;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35, 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Trung K;

- Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K phạm tội “Đánh bạc”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06(Sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2025 và phạt tiền bổ sung 12.000.000đồng.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 26.000.000đồng.

- Xử phạt bị cáo Phùng Văn H 24.000.000đồng.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 24.000.000đồng.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01bộ bài tú lơ khơ 52 quân các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 13.070.000 đồng là số tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

(Khoản tiền hiện đang được quản lý tại tài khoản của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, Ninh Bình theo ủy nhiệm chi ngày 14/01/2026 giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, Ninh Bình. Vật chứng khác theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2025 giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, Ninh Bình).

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phùng Văn H và Nguyễn Trung K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ