vanban.org

Bản án 17/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 13/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 13/3/2026) Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Văn T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – ĐÀ NẴNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/HS-ST
Ngày 13/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trà Thị Thanh Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Văn Tiên;

Bà Lê Thị Bích Phượng.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số 01/2026/QĐ-HS, ngày 11/02/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/01/1987, tại: tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: khối phố Đ, phường H, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1955; có vợ là Phạm Thị Th, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 25/2026/LCĐKNCT, ngày 13/2/2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng.

Bị cáo tại ngoại, có đơn xin xét xử vắng mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Q – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 02, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số 06, đường N, phường B, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

- Bị hại: ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1968; địa chỉ: Kiệt 168H18/15 đường T, phường C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Ô tô T&T; địa chỉ: Lô 109, đường B, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa do ông Nguyễn Tiến D, chức vụ: Giám đốc đại diện theo pháp luật.Vắng mặt

2. Ông Huỳnh D, sinh năm 1972; địa chỉ: T26 Tổ 1, ấp T, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

3. Bà Phan Thị Vy T, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ T, khu phố T, phường T, tỉnh Gia Lai. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt

4. Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 2009; địa chỉ: khối phố Đ, phường H, tỉnh Gia Lai. Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị L, sinh năm 1955; địa chỉ: khối phố Đ, phường H, tỉnh Gia Lai (là bà nội của anh Duy). Bà L, anh D có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo có giấy phép lái xe hạng C theo quy định. Ngày 04/5/2025, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 77C-067.XX chở hàng điện tử từ tỉnh Bình Dương đến thành phố Đà Nẵng. Trên ca bin xe, ngoài bị cáo còn có Nguyễn Quốc D (là con trai làm phụ xe). Đến khoảng 06 giờ ngày 05/5/2025, khi lưu thông trên đường Quốc lộ 1A thuộc phường B, thành phố Đà Nẵng và xã C, thành phố Đà Nẵng, bị cáo điều khiển xe ôtô tải với vận tốc 51km/h rồi tăng tốc lên 58km/h. Khi gần đến nơi giao nhau giữa Quốc lộ 1A – ĐT615 thuộc xã C, thành phố Đà Nẵng, bị cáo nhìn thấy xe ôtô chở khách biển số 36F-009.XX do Nguyễn Thanh H điều khiển đang dừng chờ đèn đỏ cùng chiều phía trước, cách xe bị cáo đang điều khiển khoảng 200 mét. Bị cáo tiếp tục điều khiển xe tải với vận tốc 53km/h (trên đoạn đường này có đặt biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và biển báo nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn). Khi điều khiển đến phía sau xe khách, cách xe khách khoảng 05 mét đến 10 mét thì bị cáo đạp thắng. Lúc này, thắng xe ô tô tải không có tác dụng hãm bánh xe dẫn đến xe ô tô tải do bị cáo điều khiển trôi về trước. Do khoảng cách giữa hai xe quá gần nên bị cáo lái xe sang phải để né tránh dẫn đến phần phía trước bên trái xe ôtô tải biển số 77C-067.XX do bị cáo điều khiển tông vào phần phía sau bên phải xe ôtô khách biển số 36F-009.XX do Nguyễn Thanh H điều khiển đang dừng đèn đỏ, đẩy xe ô tô chở khách chạy một đoạn rồi hai xe dừng hẳn. Vụ tai nạn giao thông làm cho phần phía trước bên trái cabin xe ô tô tải bị hư hỏng biến dạng hướng trước về sau, ép vào thân người bị cáo làm cho bị cáo bị thương tích. Hậu quả:

- Bị cáo bị đa chấn thương (1. Chấn thương bụng kín: vỡ hồi tràng + mạc treo ruột, vỡ bàng quang; 2. Chấn thương tầng sinh môn phức tạp: Đứt rời dương vật, vết thương da bìu, dập nát mô mềm tầng sinh môn; 3. Chấn thương sọ não; 4. Gãy phức tạp xương chậu; 5. Gãy xương đùi trái), nhập viện điều trị tại nhiều bệnh viện, ngày 21/8/2025 được đưa về điều trị tại nhà. Hiện tại, Nguyễn Văn T không tự ngồi dậy được, đại tiện, tiểu tiện tại giường.

- Xe ô tô tải biển số 77C-067.XX bị hư hỏng phần phía trước bên trái;

- Xe ô tô chở khách biển số 36F-009.XX bị hư hỏng phần phía sau bên phải.

Tiến hành kiểm tra cồn trong máu bị cáo xác định không có cồn, không kiểm tra được chất ma tuý trong cơ thể do Bệnh viện đa khoa Quảng Nam đã tiêm thuốc an thần, thuốc giảm đau trong quá trình cấp cứu, điều trị cho bị cáo. Kiểm tra cồn, ma tuý đối với ông Nguyễn Thanh H, xác định: không có cồn, âm tính với chất ma tuý. Tiến hành cân khối lượng xe ôtô tải xác định tổng khối lượng xe và hàng là 14.640 kg (không vượt quá tải trọng cho phép).

Xe ô tô tải biển số 77C – 067.XX có hiệu lực kiểm định đến ngày 04/8/2025. Xe ôtô khách biển số 36F – 009.XX có hiệu lực kiểm định đến ngày 15/4/2026.

Theo Kết luận số: 3250/KL-HĐ ĐGTS ngày 19/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Nam xác định trị giá thiệt hại của xe ô tô khách biển số 36F-009.41 do vụ tai nạn giao thông nêu trên gây ra là 149.322.107 (một trăm bốn mươi chín triệu, ba trăm hai mươi hai nghìn, một trăm bảy) đồng.

Theo Kết luận số 236/KL-HĐ ĐGTS ngày 29/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng xác định trị giá thiệt hại của xe ô tô tải biển số 77C-067.XX vào ngày 05/5/2025 là 59.016.000 (năm mươi chín triệu không mười sáu nghìn) đồng.

Theo Kết luận giám định số 791/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô tải biển số 77C-067.XX ngay trước khi xảy ra tai nạn:

- Hệ thống phanh xe ôtô tải biển số 77C-067.XX không đảm bảo an toàn kỹ thuật do:

+ Cơ cấu phanh của bánh xe bên phải (bên phụ) trục I không có tác dụng hãm bánh xe (màng cao su của bầu phanh bị rạn nứt, hở sợi bố tại rất nhiều vị trí, khi cấp khí nén vào bầu phanh, thấy rò rỉ khí rất mạnh);

+ Cơ cấu phanh của bánh xe bên trái (bên tài) trục III không có tác dụng hãm bánh xe (bề mặt má phanh và tang trống bám dính dầu mỡ).

- Hệ thống lái không xác định được có đảm bảo an toàn kỹ thuật không do xe bị hư hỏng (cabin biến dạng do hậu quả của tai nạn).

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng tạm giữ và xử lý các vật chứng sau:

- 01 chiếc xe ô tô chở khách biển số 36F-009.XX, đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy biên nhận thế chấp giữa Công ty dịch vụ ô tô T&T với Ngân hàng S; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đối với xe ô tô chở khách biển số 36F-009.41; 01 bản sao Giấy phép lái xe hạng D số 48095848XXXX giá trị đến 11/8/2028, mang tên Nguyễn Thanh H; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số EC02601XX đối với xe ô tô chở khách biển số 36F-009.XX; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm số 03073XX đối với xe ô tô chở khách biển số 36F-009.XX. Các vật chứng này đã trả lại cho ông Lê Trọng T (được chủ xe ủy quyền nhận phương tiện).

- 01 chiếc xe tải biển số 77C-067.XX đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 77 0018XX do Công an thị xã Hoài Nhơn cấp ngày 24/01/2025 đối với bà Phan Thị Vy T chủ xe ô tô tải biển số 77C-067.28; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EC 00970XX do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 77-05D cấp đối với xe ô tô tải biển số 77C-067.28, cấp ngày 05/02/2025, hiệu lực đến ngày 04/8/2025; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô do Công ty bảo hiểm B cấp đối với xe ôtô tải biển số 77C-067.XX, cấp ngày 12/8/2024. Các vật chứng này được trả lại cho bà Phan Thị Vy T

- 01 Giấy phép lái xe hạng C số 52011500XXXX, giá trị đến 05/02/2026 đứng tên Nguyễn Văn T; 01 cái đĩa DVD lưu trữ đoạn video do camera tại hiện trường ghi lại có liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên; 01 (một) cái đĩa DVD lưu trữ đoạn video do camera do dữ liệu GPS của xe ô tô tải biển số 77C-067.XX ghi lại có liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSTP-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo thống nhất với Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản, các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh và sức khoẻ của bị cáo hiện nay để áp dụng hình phạt nhẹ nhất đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua các lời khai có trong hồ sơ, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận như sau: Ngày 04/5/2025, bị cáo điều khiển xe ôtô tải biển số 77C-067.XX lưu thông trên Quốc lộ 1A theo hướng Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 06 giờ ngày 05/5/2025 khi đi đến đoạn đường nơi giao nhau giữa Quốc lộ 1A- ĐT615 thuộc địa phận thôn Đ, xã C, bị cáo không giảm tốc độ dẫn đến xe ô tô tải do bị cáo điều khiển tông vào xe ôtô chở khách biển số 36F-009.XX đang dừng chờ đèn đỏ phía trước gây tại nạn, hậu quả xe khách bị thiệt hại 149.322.107 đồng ( một trăm bốn mươi chín triệu, ba trăm hai mươi hai nghìn, một trăm lẽ bảy đồng y).

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ của bị cáo không giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn khi có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm và tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ đã vi phạm quy định tại khoản b, d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho xe ô tô chở khách số tiền 149.322.107 đồng đủ yếu tố cấu thành tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trách nhiệm của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho về tài sản với số tiền 149.322.107 đồng. Lỗi trong vụ tai nạn này thuộc về bị cáo, do vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động với người liên quan bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau tai nạn, bị cáo bị thương tích rất nặng, đến thời điểm xét xử bị cáo không tự ngồi dậy được, đại tiện, tiểu tiện tại giường. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là Liệt sĩ. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đồng thời điều kiện sức khoẻ của bị cáo không thể tự ngồi dậy được. Do vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND phường H giám sát giáo dục cũng đủ răn để bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố đã trao trả chiếc xe ôtô tải biển số 77C-067.28 và chiếc xe ô tô khách biển số 36F-009.41 cùng các giấy tờ liên cho chủ sở hữu là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Đối với giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn T (được chuyển hồ sơ vụ án) cần trả lại cho bị cáo; đối với đĩa DVD lưu trữ các đoạn video liên quan đến vụ tai nạn nêu trên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động bà T bồi thường thiệt hại cho ông D (chủ xe ô tô khách, biển số 36F-009.41) số tiền 160.000.000 đồng ( một trăm sáu mươi triệu đồng). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Thanh H điều khiển xe ô tô biển số 36F- 009.XX tham gia giao thông không vi phạm pháp luật nên không đề cập xử lý.

Đối với bà Phan Thị Vy T là chủ xe ôtô tải biển số 77C-067.XX. Ngày 04/5/2025, Nguyễn Văn T điều khiển xe ôtô tải biển số 77C-067.XX tham gia giao thông thì hệ thống phanh của xe ô tô này hoạt động bình thường, xe ô tô biển số 77C-067XX hiệu lực kiểm định đến ngày 04/8/2025. Ngày 05/5/2025, trước khi xảy ra tai nạn giao thông trên xe ôtô biển số 77C-067.XX bị hư hỏng hệ thống thắng tại màng cao su của bầu phanh trục I bên phải tính từ đầu xe và bề mặt má phanh, tang trống trục III bên trái bám dính dầu mỡ. Tuy nhiên, những hư hỏng này nằm bên trong trục xe, nhìn từ bên ngoài không thể phát hiện được, đồng thời lúc xảy ra tai nạn bà T không có mặt trên xe ô tô biển số 77C-067.XX. Do đó, không có cơ sở xác định hành vi của bà T cấu thành tội “Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không bảo đảm an toàn” theo quy định tại Điều 262 Bộ luật Hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với bà Phan Thị Vy T là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T thuộc trường hợp hộ cận nghèo và có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 13/3/2026)

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số 52011500XXXX mang tên Nguyễn Văn T.

- Tiếp tục lưu trữ 01 cái đĩa DVD lưu trữ đoạn video do camera tại hiện trường ghi lại có liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên; 01 (một) cái đĩa DVD lưu trữ đoạn video do camera do dữ liệu GPS của xe ô tô tải biển số 77C-067.XX ghi lại có liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên theo hồ sơ vụ án.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV bị cáo Nguyễn Văn T được miễn 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ