- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VỤ ÁN LY HÔN NÔNG THU T- LƯỜNG ĐÌNH C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thu T được ly hôn với anh Lường Đình C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2026/HNGĐ-ST Ngày 12-02-2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Trường
Bà Phạm Thị Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Liên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXX-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nông Thu T, sinh năm 1990
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; ngày cấp: 09/5/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lường Đình C, sinh năm 1993
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; ngày cấp: 24/9/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nông Thu T trình bày:
Chị Nông Thu T kết hôn với anh Lường Đình C vào năm 2019, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/02/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn M, xã T, sau đó cùng nhau đi làm thuê tại tỉnh Bắc Ninh, tình cảm vợ chồng thời gian đầu đối xử với nhau bình thường. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lường Đình C không tu chí làm ăn, hay chơi lô đề, cờ bạc, bản thân chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Lường Đình C không thay đổi, dẫn đến vợ chồng ngày càng mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không còn ai quan tâm gì đến nhau nữa. Hiện nay chị Nông Thu T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Lường Đình C, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lường Đình C.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án anh Lường Đình C vắng mặt, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như kết quả xác minh với đại diện gia đình bà Hoàng Thị L là mẹ đẻ chị Nông Thu T; đại diện thôn M, xã T, kết quả xác minh đều khẳng định anh Lường Đình C vẫn cư trú tại Thôn M, xã T, tỉnh Lạng Sơn, vợ chồng đã ly thân, chị Nông Thu T đã về nhà mẹ đẻ (bà Hoàng Thị L) ở từ cuối năm 2024. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh Lường Đình C không đến Tòa án tham gia tố tụng mà không có lý do.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn anh Lường Đình C không đến Tòa án tham gia vào quá trình tố tụng, chị Nông Thu T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chị Nông Thu T đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Lường Đình C vắng mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147; 227; 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thu T được ly hôn với anh Lường Đình C.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nông Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nông Thu T khởi kiện yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh Lường Đình C . Vì vậy, quan hệ pháp luật là "Ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lường Đình C có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn M, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sụng một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thanh niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa lần hai các đương sự vắng mặt, nguyên đơn chị Nông Thu T có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Lường Đình C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về tình cảm: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nông Thu T và anh Lường Đình C là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 28/02/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nông Thu T và anh Lường Đình C là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lường Đình C không tu chí làm ăn, hay chơi cờ bạc; vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không ai còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống.
Xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Nông Thu T và anh Lường Đình C thấy rằng: Anh Lường Đình C không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn và cũng không có ý kiến gì về việc chị Nông Thu T có đơn xin ly hôn với anh. Vợ, chồng đã sống ly thân; không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nông Thu T và anh Lường Đình C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nông Thu T yêu cầu ly hôn với anh Lường Đình C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị Nông Thu T, quá trình giải quyết vụ án trình bày là không có, còn anh Lường Đình C vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Nông Thu T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị Nông Thu T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001118 ngày 25/11/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sụng một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thanh niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thu T được ly hôn với anh Lường Đình C.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Nông Thu T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị Nông Thu T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001118 ngày 25/11/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nông Thu T, bị đơn anh Lường Đình C vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 3 - Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 3, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã T, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Ngọc |