vanban.org

Bản án 17/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 19 tháng 09 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HSST
Ngày: 21-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Dương

2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 354/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Thanh D, sinh năm 2004, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: số D Khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Tấn T và bà Lê Thị Thi N; không có anh, chị, em ruột, bản thân chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: ngày 01 tháng 03 năm 2024 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng theo Quyết định số 108/QĐ-TA, bị cáo chưa chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc mà bỏ trốn; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 09 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Huỳnh Minh N1, sinh năm 1997; thường trú: số E đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An; chỗ ở hiện nay: ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Dương Thu L, sinh năm 1987; thường trú: số A Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 19 tháng 09 năm 2024, Lê Thanh D liên lạc qua mạng xã hội Zalo với một người thanh niên tên T1 (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì T1 đồng ý và hẹn tại khu vực chợ T2, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. D điều khiển xe mô tô biển số 59G2-912.84 đi đến điểm hẹn để giao tiền và nhận ma túy. D đưa cho T1 200.000 đồng và nhận 01 bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy. D cất giấu ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe đi. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi D đang điều khiển xe đi đến đoạn đường dưới chân cầu R đoạn thuộc Ấp B, xã B, huyện C thì bị lực lượng công an kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía trước D đang mặc có 01 bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 11110 ngày 27/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lê Thanh D và hình dấu Công an xã B, huyện C, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1373 gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng thu giữ:

- 01 gói nylon chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 3429/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;

- 01 xe mô tô biển số 59G2-912.84, số máy: KB11E1276959, số khung: MH1KB1113LK277275;

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 1: 863785068805938, số Imei 2: 863785068805920, đây là điện thoại của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy.

- 01 bao thuốc lá hiệu Jet bị cáo dùng để cất giấu ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS.CC ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thanh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, kiểm sát viên giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ và 01 bao thuốc lá hiệu Jet, tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Thanh D thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh D khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 19 tháng 09 năm 2024, tại đường dưới chân cầu R, đoạn thuộc Ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo tàng trữ 01 gói ma túy mua của đối tượng tên T1 với giá 200.000 đồng để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Qua giám định khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo D, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1373 gam, loại Methamphetamine.

Xét thấy, lời khai của bị cáo D phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và phù hợp với Kết luận giám định số 11110/KL-KTHS ngày 27 tháng 09 năm 2024 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an thành phố H, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi tàng trữ 0,1373 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng của bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thanh D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ và sử dụng chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, gây mất trật tự xã hội và là nguyên nhân có thể gây ra nhiều tệ nạn và tội phạm khác, song vì để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bản thân bị cáo có một tiền sự về việc bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng, bị cáo chưa chấp hành việc cai nghiện mà bỏ trốn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói niêm phong mang số vụ 3429/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên, xét thấy, đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bao thuốc lá hiệu Jet bị cáo dùng để cất giấu ma túy, xét thấy, đây là vật dụng bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 59G2-912.84, số máy: KB11E1276959, số khung: MH1KB1113LK277275, chủ sở hữu hợp pháp là bà Dương Thu L, qua làm việc L khai nhận mua xe vào năm 2021, đến đầu năm 2022 bà L cho cháu là anh Huỳnh Minh N1 mượn xe làm phương tiện đi lại. Ngày 19 tháng 09 năm 2024, bị cáo hỏi anh N1 mượn xe đi công việc thì anh N1 đồng ý, anh N1 và bà L không biết bị cáo dùng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C trả lại xe cho bà L là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 1: 863785068805938, số Imei 2: 863785068805920, xét thấy, đây là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo tên T1, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai không biết rõ lai lịch và chỗ ở hiện tại của T1 nên cơ quan chức năng chưa điều tra làm rõ được, khi nào điều tra được sẽ xử lý sau.

Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Lê Thanh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Thanh D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 19 tháng 09 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 3429/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 bao thuốc lá hiệu Jet;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 1: 863785068805938, số Imei 2: 863785068805920;

(Theo Phiếu nhập kho số 293/PNK ngày 19 tháng 11 năm 2024).

4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Lê Thanh D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: bị cáo Lê Thanh D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ