vanban.org

Bản án 17/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 26/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 68M1-289.68, màu xanh - đen, dung tích 149 do ông Trần Tuấn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Le Minh H) - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày: 26-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Hoài

2. Bà Trần Thị Mộng Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 7

- An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Minh H, sinh ngày 17/3/2007, tại xã Đ, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn Ú, sinh năm 1983 và bà Bùi Thị L, sinh năm 1987; vợ chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: D33/LC-VPCQCSĐT ngày 19/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (Nay là tỉnh An Giang) và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 07/2025/HSST-LCCT ngày 11/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - An Giang (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh H: Bà Cao Thị Tố Q, sinh năm 1988 là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước tỉnh A (có mặt).

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Minh H:

1. Ông Lê Văn Ú, sinh năm 1983 (có mặt)

2. Bà Bùi Thị L, sinh năm 1987 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang

* Người bị hại:

1. Bà Trương Thị T, sinh năm 1982 (Đã chết)

2. Đặng Thanh D, sinh ngày 03/4/2018 (Đã chết)

2.1. Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Thị T, Đặng Văn D1: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1982 là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt nhưng có đơn)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của ông Đặng Văn T1: Bà Trương Thị T2, sinh năm 1975 là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 03/3/2025) (vắng mặt nhưng có đơn)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

2.2. Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Thị T: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1939 là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt nhưng có đơn)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Tuấn H2, sinh năm 1991 (vắng mặt nhưng có đơn)

Địa chỉ: ấp A Chợ, xã A, tỉnh An Giang

3.2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1979 (vắng mặt nhưng có đơn)

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 18 giờ ngày 28/01/2025, bà Trương Thị T cùng với 03 người con là Đặng Thị N (Mị), Đặng Thanh D, sinh ngày 03/4/2018 và Đặng Duy L1 đang đi bộ trên đường T thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang) theo hướng từ đường hành lang ven biển phía Nam về nhà trên đường T, cả 04 người đều đi bên lề phải theo chiều đi của mình. Cùng lúc này, Lê Minh H, sinh ngày 17/3/2007 (17 tuổi 10 tháng 11 ngày) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M1-289.68, số loại Exciter 149, màu xanh - đen, lưu thông cùng chiều từ phía sau đến (Trước đó vào khuya ngày 27/01/2025 rạng sáng ngày 28/01/2025 H có uống bia), do trời tối, H điều khiển xe với tốc độ cao (khoảng 50 đến 60km/h) và thiếu quan sát nên đã va chạm vào người của bà Trương Thị T, làm bà T ngã văng ra giữa lộ, xe do H điều khiển bị mất lái và tiếp tục va chạm vào người của Đặng Thanh D, làm cho D và H cùng xe mô tô ngã văng xuống mương nước vuông tôm cặp lề lộ. Hậu quả, Đặng Thanh D tử vong tại chỗ, bà Trương Thị T bị thương tích nặng được đưa đến Bệnh viện Đ điều trị, đến ngày 30/01/2025 thì bà T tử vong.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 476/KLGĐTT-KTHS ngày 03/5/2025 Công an tỉnh A), kết luận nguyên nhân tử vong của Đặng Thanh D “Do ngạt nước trên người có nhiều chấn thương”.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 287/KLGĐTT-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh K (Nay là Phòng K Công an tỉnh A), kết luận nguyên nhân tử vong của bà Trương Thị T “Sốc mất máu cấp do đa chấn thương”.

Theo kết quả xét nghiệm hóa sinh máu của Trung tâm y tế A (cồn) trong máu của Lê Minh H là 96 mmo/l.

* Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 68M1-289.68; 01 (một) áo thun ngắn tay trẻ em, có màu vàng cam, trên áo mặt trước và sau có chữ “Kings OF” có hoa văn hình cá mập hiện đang được bảo quản tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - An Giang.

* Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại với gia đình bị cáo đã thoả thuận bồi thường xong tất cả các khoản chi phí để khắc phục hậu quả với tổng số tiền 400.000.000 đồng (đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ), đồng thời người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSKV7 ngày 09/9/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang đã truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (viết tắt là BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Lê Minh H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại các điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 BLHS nên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 98, Điều 101 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024: Xử phạt bị cáo Lê Minh H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại xác định đã nhận đủ các khoản bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi thường gì khác nên đề nghị miễn xét.

Về vật chứng: Đề nghị trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 68M1-289.68, màu xanh - đen, dung tích 149 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Trần Tuấn H2 và tịch thu, tiêu huỷ 01 áo thun ngắn tay trẻ em, có màu vàng cam, trên áo mặt trước và sau có chữ “Kings OF” có hoa văn hình cá mập.

- Bị cáo Lê Minh H thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M1-289.68, loại xe Exciter 149, màu xanh - đen đụng trúng vào 02 người bị hại dẫn đến tử vong đúng như cáo trạng nêu trên. Sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo đã thoả thuận bồi thường xong tất cả các khoản thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Bị cáo đồng ý với bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận, đối đáp gì.

- Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị áp dụng Điều 54, Điều 91 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm tù.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Lê Văn Ú, bà Bùi Thị L có ý kiến: Sau khi sự việc xảy ra gia đình đã bồi thường đúng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp gia đình bị hại nêu ra với tổng số tiền 400.000.000 đồng. Xin cho bị cáo được hưởng án treo để phụ giúp gia đình.

- Người đại diện hợp pháp của ông Đặng Văn T1 (chồng bị hại Trương Thị T và là cha của Đặng Thanh D) là bà Trương Thị T2 vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong đơn xin vắng mặt và văn bản trình bày có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự đã nhận đủ các khoản bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Thị T là bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong đơn bãi nại và thoả thuận có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ mức thấp nhất cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự đã nhận đủ các khoản bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Tuấn H2 và ông Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên toà, nhưng có đơn xin vắng mặt.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để phụ giúp gia đình trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Chính bị cáo là người đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M1-289.68, loại xe Exciter 150, màu xanh - đen lưu thông trên tuyến đường tỉnh lộ 968 về hướng đường tỉnh lộ 967, khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang, do thiếu quan sát nên xảy ra va chạm với bà Trương Thị T và cháu Đặng Thanh D đang đi bộ cặp lề phải, phía trước cùng hướng di chuyển của H, hậu quả làm D văng xuống mương nước vuông tôm bị đa chấn thương tử vong tại chỗ do ngạt nước, đến ngày 30 tháng 01 năm 2025 bà T tử vong tại bệnh viện do sốc mất máu cấp do đa chấn thương. Thời điểm xảy ra tai nạn bị cáo không có giấy phép láí xe theo quy định và trong tình trạng có sử dụng rượu, bia (trong máu có nồng độ cồn 96 mmo/l).

Hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên là phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 2 Điều 260 BLHS với các tình tiết định khung là không có giấy phép láí xe theo quy định; trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định và làm chết 02 người (điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 BLHS). Nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo quy định tại các điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 BLHS theo kết luận và đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển xe mô tô 02 bánh có dung tích trên 100 cm3 mà không có giấy phép lái xe theo quy định là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì sự chủ quan của bị cáo đã khiến cho một con người đang sống khỏe mạnh phải mất đi sinh mạng. Do đó, cần phải phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo để giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tôn trọng sức khỏe, tính mạng người khác, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục chung cho mọi người có ý thức sống tuân thủ pháp luật mà không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật tương tự như bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố xét xử và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường đủ các khoản thiệt hại đúng như yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại nêu ra để khắc phục hậu quả và cũng để bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân của bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền sự tiền án và hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi vô ý; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng (ông, bà nội và ông ngoại được tặng huân, huy chương), đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS, khoản 2 Điều 51 BLHS. Khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi (17 tuổi 10 tháng 11 ngày) nên cần áp dụng các điều 91, 101 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi lượng hình đối với bị cáo. Đồng thời cũng có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thấp hơn mức thấp nhất của khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm dân sự: Theo hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa thể hiện, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đầy đủ các khoản thiệt hại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét đến.

Về vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 68M1-289.68, màu xanh - đen, dung tích 149 do ông Trần Tuấn H2 đứng tên chủ xe, nhưng ông H2 xác định đã bán lại cho ông Nguyễn Văn M và ông M cũng thừa nhận. Sau đó ông M đã bán chiếc xe này lại cho bị cáo. Do bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại xong nên cần trả lại cho bị cáo; đối 01 áo thun ngắn tay trẻ em, có màu vàng cam, trên áo mặt trước và sau có chữ “Kings OF” có hoa văn hình cá mập do không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Từ những phân tích, đánh giá trên, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Minh H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ các điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024: Xử phạt bị cáo Lê Minh H 01 (một) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 68M1-289.68, màu xanh - đen, dung tích 149 do ông Trần Tuấn H2 đứng tên chủ xe và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Trần Tuấn H2; tịch thu và tiêu huỷ 01 áo thun ngắn tay trẻ em, có màu vàng cam, trên áo mặt trước và sau có chữ “Kings OF” có hoa văn hình cá mập

(vật chứng trên hiện Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - An Giang đang quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/9/2025; đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Trần Tuấn H2 hiện đang bảo quản trong hồ sơ vụ án).

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Minh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Lê Văn Ú, bà Bùi Thị L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2025). Người đại diện hợp pháp của ông Đặng Văn T1 là bà Trương Thị T2, người đại diện hợp pháp bị hại là bà Nguyễn Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Tuấn H2, ông Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên toà; bà T2, bà H1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; ông H2, ông M có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ