vanban.org

Bản án 17/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Giáp Văn V 05 năm 9 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (16/12/2024).

* Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Giáp Văn V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng, tình trạng cũ đã qua sử dụng; số tiền 1.955.000 đồng; 01 (một) ví da, màu nâu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giáp Văn Vân - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Giáp Văn V 05 năm 9 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (16/12/2024).
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN ĐỘNG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17 /2025/HS - ST
Ngày 19 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lã Văn Minh, Ông Nguyễn Ngọc Ngát.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vương Văn Phong- Kiểm sát viên.

Ngày 19/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST - HS, ngày 25 tháng 4 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Văn V; Sinh năm 1973; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Giáp Văn T, sinh năm 1939 và bà: Nông Thị T1, sinh năm 1949.; Có vợ: Vương Thị T2, sinh năm 1973 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2005; Anh chị em ruột: Có 06 anh em ruột, bị cáo là thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành hình phạt tại Trại giam P đến ngày 26/02/2023 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. (V đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 11/11/2017 theo biên lai thu tiền số 03821)

Tiền sự: Không

Nhân thân:

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 15/QĐ-CAX ngày 09/5/2024 của Trưởng Công an xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang, xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 161/QĐ-UBND ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang, xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 188/QĐ-XPTT ngày 30/5/2024 của Chủ tịch UBND xã V, huyện S quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn là 03 tháng. V đã chấp hành xong ngày 30/8/2024.

Ngày 13/02/2025 Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt cảnh cáo đối với V về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vi Khương D, sinh năm 1997. (Vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Lê Thị L, sinh năm 1991. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố P, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến:

- Ông La Văn T3, sinh năm 1957. (Vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Ông La Văn G, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố P, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 25 phút ngày 16/12/2024, Tổ công tác của Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an xã V kiểm tra, phát hiện và lập biên bản đối với Vi Khương D, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại bờ đường bên trái của Quốc lộ B theo hướng thị trấn A đi xã L thuộc thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Vi Khương D bằng phương pháp xét nghiệm nước tiểu. Kết quả xét nghiệm, xác định Vi Khương D dương tính với chất ma túy, loại Heroine. Đấu tranh tại chỗ, D khai nhận số ma túy D sử dụng được mua của Giáp Văn V, sinh năm 1973, trú tại thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ lời khai của Vi Khương D, cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, phương tiện của Giáp Văn V tại thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét thu giữ:

* Thu giữ trên người Giáp Văn V:

+ Tại túi áo khoác, bên phải: 01 (một) túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong chứa 01 (một) túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ bên trong đựng 09 (chín) mảnh giấy bạc, một mặt màu trắng, một mặt màu bạc, mỗi mảnh đều được gấp kín, bên trong đựng chất cục bột màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, được hàn kín hai đầu, bên trong đựng 01 (một) viên nén hình tròn, màu hồng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu hồng, được hàn kín hai đầu,bên trong chữa chất tinh thể màu trắng: 01 (một) đoạn ống nhựa màu đỏ, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

+ Tại túi áo ngực, bên trái: 01 (một) túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ bên trong đựng 09 (chín) gói giấy bạc màu trắng, trong các gói giấy bạc đều chứa chất cục bột màu trắng.

+ Tại túi quần đẳng sau, bên phải: 01 (một) ví da, màu nâu, bên trong có tổng số tiền là 555.000 đồng.

+ Tại túi quần bên phải, đằng trước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A31, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

* Thu giữ tại phòng ngủ của Giáp Văn V: Tại vị trí trên giường, dưới đệm: 01 (một) hộp nhựa màu xanh trắng, trên hộp có chữ “Cool Air”, bên trong dựng 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, bên trong đựng 01 (một) mảnh viên nén màu hồng.

* Thu giữ tại vị trí tủ gỗ ở phòng khách của nhà Giáp Văn V: Tại vị trí trong thùng dựng đá, màu đỏ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng, cũ đã qua sử dụng và số tiền 1.400.000 đồng.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 746/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với chất nghi là ma tuý đã thu giữ trên người, chỗ ở của Giáp Văn V. Tại Kết luận giám định số 2760/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “A” đã được niêm phong gửi giám định:

- Trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa,viền màu đỏ:

+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có khối lượng 4,425 gam, loại Methamphetamine.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 09 (chín) gói giấy bạc đều có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có tổng khối lượng 0,350 gam, loại Heroine (H).

+ 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn màu vàng được hàn kín hai đầu là ma tuý, có khối lượng 0,096 gam, loại Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 01 (một) đoạn màu hồng và 01 (một) đoạn màu đỏ) là ma tuý, có tổng khối lượng 0,220 gam, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa các bị cáo Giáp Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai, các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản cáo trạng số 16/CT - VKS ngày 23/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Giáp Văn Vân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, n, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX như sau:

Áp dụng điểm b, n, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Giáp Văn V từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày (16/12/2024).

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị

cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như vậy là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến: Tại phiên tòa người liên quan, người chứng kiến được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. HĐXX xét thấy người liên quan, người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, người liên quan không có ý kiến hay yêu cầu gì, việc vắng mặt của người liên quan, người chứng kiến không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo qui định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai do bị nghiện ma túy ngày 15/12/2024 bị cáo mua 4,803 gam Methamphetamine và 0,929 gam Heroine để sử dụng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người liên quan, biên bản xác định hiện trường, kết luận giám định, vật chứng của vụ án đã thu giữ đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Giáp Văn V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, n , o khoản 2 Điều 249 BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã truy tố bị cáo Giáp Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương, mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác do vậy cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đã bị Toà án nhân dân huyện Sơn Động xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm nhưng đều là tình tiết định khung hình phạt do vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Về hình phạt: Sau khi xem xét xét tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tình tiết định khung hình phạt, là đối tượng nghiện ma túy, bị Tòa án xử phạt tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý đi mua ma túy để sử dụng, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật do vậy cần phải có một mức hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức đề nghị của Viện kiểm sát để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5, Điều 249 BLHS bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung. Tuy nhiên các bị cáo đều là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì đáng giá nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Vi Khương D, căn cứ biên bản ghi nhận vụ việc, biên bản xét nghiệm chất ma tuý, ngày 13/02/2025 Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với D về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với người đàn ông tên V1 ở huyện L: Quá trình điều tra Giáp Văn V khai nhận nhờ một người đàn ông không biết rõ tên tuổi, địa chỉ là người nghiện ma tuý liên lạc hộ, V không quen biết và không có thông tin gì về người đàn ông tên V1 này, ngoài lời khai của V ra thì không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do đó Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đã bán ma tuý hồng phiến cho V: Bị cáo khai mua không quen biết, việc mua bán không có người nào chứng kiến. Do đó, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lê Thị L, sinh năm 1991, ở TDP P, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang: Bị cáo V khai mua của L 3.300.000 đồng tiền ma tuý vào ngày 16/12/2024. Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, phương tiện của Lê Thị L tại TDP P, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập, làm việc, đối chất tuy nhiên L không thừa nhận việc bán ma tuý cho V. Việc giao dịch mua bán ma tuý vào ngày V không gặp trực tiếp, không có người nào chứng kiến, ngoài lời khai của V thì không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do đó, không có căn cứ để xem xét xử lý đối với bà Lê Thị L.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Giáp Văn V: Căn cứ biên bản xét nghiệm chất ma tuý, ngày 13/02/2025 Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt cảnh cáo đối với V về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. là có căn cứ nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Vật chứng của vụ án gồm có:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng, tình trạng cũ đã qua sử dụng; số tiền 1.955.000 đồng; 01 (một) ví da, màu nâu không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A31, màu đen, đã qua sử dụng. Bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này làm phương tiện để liên lạc mua ma tuý, do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 phong bì ký hiệu “A” được niêm phong lại bằng dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định gồm: 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng: Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine (H) còn lại sau giám định được bọc vỏ bao gói mẫu sau giám định; Mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn màu vàng được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thế màu trắng đựng trong 02 (hai) đoạn ông nhựa đêu được hàn kín hai đầu (trong đó có: 01 (một) đoạn màu hồng và 01 (một) đoạn màu đỏ) là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine (H) còn lại sau giám định được bọc vỏ bao gói mẫu sau giám định; Mẫu mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn màu xanh được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định là hàng cấm mua bán, tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 (một) hộp nhựa màu xanh trắng, trên hộp có chữ “Cool Air” (lọ đựng ma túy) cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Giáp Văn V là dân tộc thiểu số, sống vũng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo theo định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b, n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Giáp Văn V 05 năm 9 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (16/12/2024).

* Về xử lý vật chứng:

- Trả lại bị cáo Giáp Văn V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng, tình trạng cũ đã qua sử dụng; số tiền 1.955.000 đồng; 01 (một) ví da, màu nâu.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A31, màu đen, đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “A” được niêm phong lại bằng dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định gồm: 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng: Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine (H) còn lại sau giám định được bọc vỏ bao gói mẫu sau giám định; Mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn màu vàng được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thế màu trắng đựng trong 02 (hai) đoạn ông nhựa đêu được hàn kín hai đầu (trong đó có: 01 (một) đoạn màu hồng và 01 (một) đoạn màu đỏ) là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine (H) còn lại sau giám định được bọc vỏ bao gói mẫu sau giám định; Mẫu mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn màu xanh được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định là hàng cấm mua bán, tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp nhựa màu xanh trắng, trên hộp có chữ “Cool Air” (lọ đựng ma túy) cần tịch thu tiêu huỷ.

* Về án phí: Miễn án phí án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giáp Văn V.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ