- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn U bị truy tố về tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2025/HS-ST Ngày: 06-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Bình.
2/ Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Diệu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khụ vực 4, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo: Đặng Văn U, sinh năm 1978 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nơi thường trú: ấp L, xã S, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị C1 (đã chết); bị cáo có vợ và 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần: Ngày 31/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xử phạt 6.000.000đ về tội đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tiền vào ngày 22/02/2024, chưa được xóa tích.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Trần Hoàng T1, sinh năm 1996. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
2. Anh Võ Văn C2, sinh năm 1995. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
3. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
4. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1984. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
5. Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1977. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
6. Anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1979. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long
7. Anh Đặng Phước Đ, sinh năm 1963. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
8. Anh Bùi Văn N, sinh năm 1988. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp X, xã S, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 19/10/2024, tại quán nước giải khát của anh Trần Hoàng T1 địa chỉ ấp X, xã P, huyện T (nay là xã S), tỉnh Vĩnh Long lực lượng Cảnh sát trật tự Công an tỉnh Vĩnh Long phối hợp Công an huyện Trà Ôn phát hiện có các đối tượng gồm: Đặng Văn U, Trần Hoàng T1, Võ Văn C2, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn T3 đang xem đá gà trên mạng internet để cá cược thắng thua bằng tiền, tại quán nước giải khát còn có Nguyễn Minh V, Nguyễn Thanh T4, Đặng Phước Đ nên Công an lập biên bản sự việc. Quá trình điều tra chứng minh được các đối tượng đã tham gia đánh bạc cụ thể như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/10/2024, Đặng Văn U đến quán nước giải khát của Trần Hoàng T1 thì Nguyễn Văn T2 rủ U, C2 và T3 cùng nhau xem đá gà qua mạng internet để cá cược thắng thua bằng tiền, U đồng ý nên lấy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M20 màu đen đưa cho T2 để truy cập vào trang web daga88a.link xem đá gà đang phát trực tuyến qua mạng internet giữa gà xanh và gà đỏ (tức là gà được trồng cựa quấn băng keo màu xanh và gà được trồng cựa quấn băng keo màu đỏ) để những người cá cược xem và chọn gà đặt cược. U trực tiếp cá cược với T2, C2, T3. Kết quả thắng thua cá cược căn cứ vào kết quả thắng thua của các trận gà được phát trực tiếp qua mạng internet. T2, C2, T3 đặt cược gà xanh hoặc gà đỏ mỗi trận đá gà từ 100.000đ đến 500.000đ để tính thắng thua trực tiếp với U theo tỷ lệ thắng thua là 10/9, tức nếu người chơi thua sẽ chung đủ số tiền đặt cược cho U nhưng nếu U thua thì chỉ chung lại người chơi thắng 90% số tiền đặt cược. Kết thúc mỗi trận đá gà, U sẽ thu tiền của bên thua và chung chi cho bên thắng. Trong thời gian tham gia đánh bạc tổng cộng 04 trận gà, cụ thể như sau:
- Trận thứ nhất: T3 đặt cược gà xanh, số tiền đặt cược 100.000đ; T2 đặt cược gà xanh, số tiền đặt cược là 100.000đ, kết quả gà xanh thua nên T3 chung cho U 100.000đ, T2 chưa chung tiền cho U. Trận gà này U thắng 200.000đ.
- Trận thứ hai: T3 đặt cược gà xanh, số tiền đặt cược 100.000đ, kết quả gà xanh thua nên T3 đã chung cho U 100.000đ. Như vậy, trận này U thắng 100.000đ.
- Trận thứ ba: C2 đặt cược gà xanh, số tiền đặt cược 100.000đ, kết quả gà xanh thắng nên U đã chung cho C2 90.000đ. Như vậy, trận này U thua 90.000đ.
- Trận thứ tư: C2 đặt cược gà xanh, số tiền đặt cược 100.000đ, khi trận gà đang diễn ra chưa có kết quả thắng thua thì Công an đến kiểm tra phát hiện và lập biên bản vi phạm.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: T3 mang sử dụng số tiền 200.000đ để đánh bạc, T3 thua 200.000đ nên nghỉ trước; T2 sử dụng số tiền 100.000đ để đánh bạc, T2 thua 100.000đ nhưng chưa chung cho U; C2 sử dụng số tiền 250.000đ để đánh bạc, C2 thắng 90.000đ; U sử dụng số tiền 300.000đ để đánh bạc, U thắng 210.000đ.
Ngoài ra, tại thời điểm Công an đến kiểm tra quán nước giải khát của Trần Hoàng T1 còn phát hiện Trần Hoàng T1 và Bùi Văn N, sinh ngày 10/7/1988, trú tại ấp X, xã P, huyện T (nay là xã S), tỉnh Vĩnh Long cũng đang xem đá gà qua mạng internet để cá cược thắng thua bằng tiền với nhau nhưng khi thấy Công an đến thì N bỏ chạy. Qua làm việc, T1 trình bày vào khoảng thời gian từ 11 giờ 40 phút đến 13 giờ, ngày 19/10/2024, T1 đánh bạc trái phép dưới hình thức xem đá gà đang phát trực tiếp ở Campuchia để cá cược thắng thua bằng tiền. Cách thức đánh bạc như sau: T1 trực tiếp cá cược với người có tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn” và N. Kết quả thắng thua cá cược căn cứ vào kết quả thắng thua của các trận gà được phát trực tiếp qua mạng internet (các đối tượng không đăng ký tài khoản hay có bất kỳ giao dịch nào thông qua mạng internet). Người có tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn” và N đặt cược gà xanh hoặc gà đỏ để tính thắng thua trực tiếp với T1 theo tỷ lệ thắng thua là 10/9, tức nếu người chơi thua sẽ chung đủ số tiền đặt cược cho T1 nhưng nếu T1 thua thì chỉ chung lại người chơi thắng 90% số tiền đặt cược. Cụ thể, T1 đánh bạc trái phép dưới hình thức xem đá gà đang phát trực tiếp ở Campuchia để cá cược ăn thua bằng tiền với 02 người như sau:
Người thứ nhất có tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn” (T1 không biết rõ họ tên, địa chỉ và số điện thoại của người này): Do trước đây đã từng cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức xem đá gà qua mạng internet để cá cược thắng thua bằng tiền nên vào khoảng 11 giờ 40 phút người có tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn” nhắn tin vào tài khoản Zalo tên “Hoàng T1” (Zalo được đăng ký bằng số điện thoại 0768.516.289, đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của T1) để đánh bạc trái phép dưới hình thức xem đá gà đang phát trực tiếp ở Campuchia cá cược thắng thua bằng tiền với T1, thỏa thuận sau khi kết thúc tất cả các trận đá gà vào cuối ngày nếu “Q Nguyễn” thắng, T1 chuyển tiền cho “Q Nguyễn” qua số tài khoản 19072908742011 mở tại Ngân hàng TMCP K nhưng không rõ đây là số tài khoản do ai đứng tên, quá trình tham gia người này đặt cược mỗi trận từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ, T1 không nhớ rõ kết quả thắng thua của từng trận gà là bao nhiêu.
Người thứ hai là Bùi Văn N sử dụng tài khoản zalo tên “Phúc huyên Q” đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của N nhắn tin vào tài khoản zalo tên “Hoàng T1” để tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xem đá gà qua mạng internet để cá cược thắng thua bằng tiền với T1. N đặt cược mỗi trận với số tiền từ 500.000đ đến 1.500.000đ, cụ thể từng trận gà như sau:
Trận thứ nhất: N đặt cược gà xanh 1.000.000đ, kết quả gà xanh thua. Trận gà này T1 thắng 1.000.000đ.
Trận thứ hai: N đặt cược gà xanh 500.000đ, kết quả gả xanh thua. Trận gà này T1 thắng 500.000đ.
Trận thứ ba: N đặt cược gà xanh 1.500.000đ, kết quả gà xanh thua. Trận gà này T1 thắng 1.500.000đ.
Trận thứ tư: N đặt cược gà đỏ 1.000.000đ, kết quả gà đỏ thắng. Trận gà này T1 thua nên phải chung cho N số tiền 900.000đ.
Trận thứ năm: N đặt cược gà đỏ 1.000.000d, kết quả gà đỏ thua. Trận gà này T1 thắng 1.000.000đ.
Trận thứ sáu: N đặt cược gà xanh 1.500.000đ, kết quả gà xanh thua. Trận gà này T1 thắng 1.500.000d.
T1 và N cá cược được khoảng 06 trận, T1 thắng N số tiền 4.600.000đ, N chưa chung tiền cho T1 thì bị Công an đến kiểm tra phát hiện, lập biên bản vi phạm.
Quá trình điều tra xác định, Đặng Văn U đã bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 6.000.000đ về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 16/2018/HS-ST ngày 31/7/2018, U đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 22/02/2024, đến ngày 19/10/2024 chưa được xóa án tích nên hành vi đánh bạc dưới hình thức xem đá gà qua mạng internet để cá cược bằng tiền ngày 19/10/2024 cùng với Nguyễn Văn T3, Võ Văn C2 và Nguyễn Văn T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, Đặng Văn U phải chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:
- Lần 1: Số tiền U phải chịu trách nhiệm hình sự là 400.000đ (trong này số tiền U sử dụng đánh bạc là 200.000đ, số tiền U thắng được là 200.000đ).
- Lần 2: Số tiền U phải chịu trách nhiệm hình sự là 200.000đ (trong này số tiền U sử dụng đánh bạc là 100.000đ, số tiền U thắng được là 100.000đ).
- Lần 3: Số tiền U sử dụng đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là 100.000đ.
- Lần 4: Số tiền U sử dụng đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là 100.000đ.
Ngày 18/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đặng Văn U về tội “Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại cáo trạng số 42/CT-VKSTÔ ngày 09/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn đã truy tố Đặng Văn U về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 6.500.000đ (không rõ là của người nào do không ai thừa nhận) và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh của Bùi Văn N; số tiền 400.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám của Trần Hoàng T1; số tiền 140.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng của Võ Văn C2; số tiền 4.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, loại bàn phím của Đặng Văn U; số tiền 1.150.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh của Nguyễn Văn T2; số tiền 260.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của Nguyễn Văn T3.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn truy tố bị cáo là đúng hành vi của bị cáo, không oan, bị cáo biết hành vi của bị cáo là không đúng hứa tuyệt đối khắc phục, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Vĩnh Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật đã nêu trong Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn U phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ Số tiền 6.500.000đ (không rõ là của người nào do không ai thừa nhận).
+ Số tiền 340.000đ của Võ Văn C2 (bao gồm 250.000đ tiền sử dụng đánh bạc và 90.000đ tiền thu lợi bất chính), đang tạm giữ của C2 140.000đ, buộc C2 phải nộp thêm 200.000đ.
+ Số tiền 420.000đ (bao gồm 310.000đ tiền sử dụng đánh bạc và 110.000đ tiền thu lợi bất chính) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen của Đặng Văn U.
+ Số tiền 100.000đ của Nguyễn Văn T2.
- Đề nghị trả lại các tài sản gồm:
+ Trả lại cho Nguyễn Văn T2 số tiền 1.050.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh;
+ Trả lại cho Nguyễn Văn T3 số tiền 260.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh.
+ Trả lại cho Trần Hoàng T1 số tiền 400.000đ.
+ Trả lại cho Võ Văn C2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng;
+ Trả lại cho Đặng Văn U số tiền 3.580.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, loại bàn phím. Nhưng đề nghị giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Vĩnh Long tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
+ Trả lại cho Trần Hoàng T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám; trả lại cho Bùi Văn N 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh nhưng giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý vụ việc đánh bạc giữa Trần Hoàng T1, Bùi Văn N và người có tài khoản zalo tên “Q Nguyễn” (T1 không biết rõ họ tên, địa chỉ và số điện thoại của người này).
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo nộp theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi hứa sẽ khắc phục, không tái phạm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Ôn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn (nay là Viện kiểm sta nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút đến 13 giờ, ngày 19/10/2024, bị cáo Đặng Văn U cùng với các đối tượng Võ Văn C2, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn T3 xem đá gà trên mạng internet và cá cược ăn thua bằng tiền. Số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới 5.000.000đ nhưng bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Trà Ôn xử phạt 6.000.000đ về tội “Đánh bạc" chấp hành xong ngày 22/02/2024, đến nay chưa được xoá án tích. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đặng Văn U phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Vĩnh Long) đã truy tố đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử về hành vi đánh bạc nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Tệ nạn cờ bạc hiện là một trong những vấn đề bức xúc trong xã hội, là một trong những nguyên nhân đưa một số gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn và làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo rõ ràng, ăn năn hối cải, bị cáo có cha được Nhà nước tặng thưởng “Huy chương kháng chiến hạng Nhì” và bị cáo có quyết tâm khắc phục sai phạm. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng hình phạt theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo thấy cũng đủ tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Đối với việc Trần Hoàng T1, Võ Văn C2, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn T3, Bùi Văn N có tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xem đá gà qua mạng internet để cá cược vào ngày 19/10/2024 nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000đ và chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Công an huyện Trà Ôn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với các đối tượng trên là có căn cứ. Đối với người có tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn” do Trần Hoàng T1 khai nhưng không biết rõ họ tên, địa chỉ và số điện thoại của người này, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Công ty cổ phần VNG - VNG Campus (quản lý Zalo) và Ngân hàng TMCP K cung cấp chứng cứ, tài liệu có liên quan nhưng chưa có kết quả do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người có tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn” do Trần Hoàng T1 khai có đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xem đá gà qua mạng internet để cá cược vào ngày 19/10/2024 với T1 nên chưa đề cập xử lý là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 2.500.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím của Nguyễn Minh V; số tiền 720.000đ và 01 điện thoại di động nhân hiệu Samsung màu trắng của Nguyễn Thanh T4; số tiền 430.000đ của Đặng Phước Đ đã thu giữ, quá trình điều tra không chứng minh được có liên quan đến vụ án đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Số tiền 6.500.000đ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ do không ai thừa nhận nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh của Bùi Văn N bỏ lại khi Công an đến kiểm tra; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám của Trần Hoàng T1 không liên quan đến vụ án của bị cáo Đặng Văn U nên cần trả lại cho anh N và anh T1 nhưng giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long tiếp tục tạm giữ để điều tra vụ án đánh bạc liên quan đến tài khoản zalo tên “Q Nguyễn” do Nguyễn Hoàng T1 khai.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng của Võ Văn C2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh của Nguyễn Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của Nguyễn Văn T3 quá trình điều tra không chứng minh được liên quan đến vụ án đánh bạc nên trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với 01 điện thoại di động nhân hiệu Viettel màu đen, loại bàn phím thu giữ của Đặng Văn U không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4) tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 màu đen của Đặng Văn U, quá trình điều tra bị cáo và các đối tượng khai nhận có sử dụng vào việc đánh bạc, đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán hóa giá nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc khai nhận đã sử dụng vào việc đánh bạc, cụ thể: Bị cáo Đặng Văn U sử dụng số tiền 310.000đ để đánh bạc và thu lợi bất chính số tiền 110.000đ; Võ Văn C2 sử dụng số tiền 250.000đ để đánh bạc và thu lợi bất chính số tiền 90.000đ; Nguyễn Văn T3 sử dụng số tiền 200.000đ để đánh bạc; Nguyễn Văn T2 sử dụng số tiền 100.000đ để đánh bạc nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đặng Văn U số tiền 4.000.000đ; thu giữ của Võ Văn C2 số tiền 140.000đ; thu giữ của Nguyễn Văn T3 số tiền 260.000đ; thu giữ của Nguyễn Văn T2 số tiền 1.150.000đ. Khấu trừ số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nên buộc Võ Văn C2 nộp thêm số tiền 200.000đ; trả cho bị cáo Đặng Văn U số tiền 3.590.000đ; trả lại cho Nguyễn Văn T3 số tiền 60.000đ; trả lại cho Nguyễn Văn T2 số tiền 1.050.000đ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Văn U có nghĩa vụ nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn U phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Đặng Văn U 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng.
Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2025).
Giao người bị kết án cho Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long và Ủy ban nhân dân xã nơi người bị kết án cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
2.2. Phạt bổ sung bị cáo Đặng Văn U số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
3.1. Tịch thu bán hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 màu đen của Đặng Văn U.
3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) Công an đã thu giữ không ai thừa nhận.
3.3. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng bao gồm: Số tiền 420.000đ (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng) của Đặng Văn U; số tiền 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng) của Võ Văn C2, buộc Võ Văn C2 nộp thêm số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng); số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn T3; số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn T2.
3.4. Trả lại 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh cho Bùi Văn N; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám cho Trần Hoàng T1 nhưng giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long tiếp tục quản lý để điều tra vụ án đánh bạc liên quan đến tài khoản Zalo tên “Q Nguyễn”.
3.5. Trả lại cho Đặng Văn U 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, loại bàn phím và số tiền 3.580.000đ (Ba triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) nhưng giao Cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
3.6. Trả lại cho Nguyễn Văn T3 số tiền 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng); trả lại cho Nguyễn Văn T2 số tiền 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
(Số tiền theo biên lai thu số 0005418 ngày 09/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long)
3.7. Trả lại cho Võ Văn C2 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng; trả lại cho Nguyễn Văn T2 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh; trả lại cho Nguyễn Văn T3 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh.
(Các vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn lập ngày 05/6/2025).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đặng Văn U có nghĩa vụ nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 4 – Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 4 – Vĩnh Long; - UBND xã S, tỉnh Vĩnh Long; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thu Nga |