vanban.org

Bản án 17/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Áp dụng điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Hoàng - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày 26/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nông Thanh Tùy.

- Ông Lý Viết Chấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Lý - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4

- Đắk Lắk.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 15/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 15/9/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Ngọc H; tên gọi khác: Nhỏ; giới tính: nam; sinh ngày 20/10/1994, nơi sinh: ĐL; nơi cư trú: tổ dân phố T, xã K, tỉnh ĐL; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 6/12; Con ông Phạm Ngọc H1, sinh năm 1964 và con bà Võ Thị B, sinh năm 1967; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Phạm Ngọc H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Mỹ P, sinh năm 1956 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1961; bà Trần Ngọc Tuyết V, sinh năm 1985; bà Trần Nguyễn Vi V, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: 23/29/5 Nơ Trang L, phường B, quận B, Thành phố H (nay là 23/29/5 Nơ Trang L, phường G, Thành phố H).

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Quang T, sinh năm 1985 ( Có mặt).

Địa chỉ: Tổ B, khóm M, phường C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 ngày 30/3/2025, sau khi đã uống bia, Phạm Ngọc H (có giấy phép lái xe hạng A1 số 660138024619 do Sở giao thông vận tải tỉnh ĐL cấp ngày 31/10/2013) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82, có dung tích xi lanh 108cm3, lưu thông trên Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK, tỉnh ĐL để về nhà. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến Km 123+600 Quốc lộ 26 thuộc địa phận tổ dân phố S, xã K, tỉnh ĐL (khu vực ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ 26 với đường Võ Thị S và đường Nơ Trang L) H phát hiện phía trước cùng chiều có 01 xe ô tô màu đỏ (không rõ biển số) đang bật xi nhan báo rẽ phải để tấp vào lề nhưng Phạm Ngọc H điều khiển xe giữ nguyên tốc độ khoảng 60 km/h và đánh lái sang trái theo chiều đi của mình để vượt xe ô tô rồi tiếp tục đi thẳng qua ngã tư. Tuy nhiên, quá trình điều khiển xe mô tô thì H không quan sát phía trước mà quay mặt sang phải để nhìn xe ô tô màu đỏ. Khi Phạm Ngọc H quay mặt nhìn lại về phía trước thì phát hiện ông Trần Mỹ P (sinh năm 1956, cư trú tại phường C, tỉnh Đ) điều khiển xe mô tô biển số 47G1-122.03 đang chuyển hướng từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải theo chiều đi của H. Do khoảng cách quá gần nên xe mô tô biển số 47M1-728.82 do H điều khiển va chạm với xe mô tô biển số 47G1-122.03 do ông Trần Mỹ P điều khiển. Hậu quả, ông Trần Mỹ P chết trên đường đi cấp cứu, Phạm Ngọc H bị thương tích; xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 và xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 bị hư hỏng.

Qua khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra xác định:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm trên đoạn đường thẳng tại Km 123 + 600 thuộc địa phận tổ dân phố S, xã K. Mặt đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng rộng 14,6m. Đoạn đường có vạch sơn màu vàng đứt quảng chia mặt đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau. Phần đường bên phải theo hướng phường B đi xã EK rộng 7,7m. Hai bên phần đường có vạch sơn màu trắng nét đứt để phân chia thành các làm đường cùng chiều, làn đường sát mép đường bên phải Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK rộng 3,6m. Trên mặt đường có vạch sơn màu trắng dành cho người đi bộ qua đường. Bên phải Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK tiếp giáp với đường Nơ Trang L được trải nhựa rộng 7m, bên trái Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK tiếp giáp với đường Võ Thị S được trải nhựa rộng 8m. Đoạn đường không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn, có đèn chiếu sáng công cộng và có biển báo hiệu giao với đường không ưu tiên. Quá trình khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường chọn trụ điện số ĐĐ474KRP/34 nằm trên phần đất bên phải theo hướng phường B đi xã EK và chọn mép đường bên phải Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK làm mốc chuẩn và mép đường chuẩn.

Xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03, sau khi xảy ra va chạm ngã nghiêng bên trái trên phần đường bên phải Quốc lộ 26, đầu xe hướng về phường B, đuôi xe hướng về xã EK. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô đến mép đường chuẩn là 3,35m, đo đến mốc chuẩn là 20,65m. Đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô đến mép đường chuẩn là 3,65m.

Xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82, sau khi xảy ra va chạm được người dân dựng đứng trên phần đường bên phải Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK. Đầu xe hướng về phường B, đuôi xe hướng về xã EK. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô đến mép đường chuẩn là 6,7m, đo đến tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 là 3,3m. Đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô đến mép đường chuẩn là 6,8m.

Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 với xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 là phần mặt lăn lốp trước của xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 va chạm với bàn chân phanh bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 được xác định nằm ở phần đường bên phải Quốc lộ 26 theo hướng phường B đi xã EK. Đo từ điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện đến mép đường chuẩn là 5,2m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn:

Xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82: Mặt nạ phía trước bị bể vỡ hoàn toàn, hộp đèn chiếu sáng phía trước, đèn xi nhan hai bên phía trước rơi khỏi vị trí ban đầu; Yếm chắn gió phía trước bên phải bị bể vỡ kích thước (70x25)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 20cm. Dè chắn bùn phía trước bị bể vỡ kích thước (20x15)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 35cm. Phuộc nhún phía trước bên phải bị đẩy cong từ trước ra sau, từ trái qua phải, lệch khỏi vị trí ban đầu 10cm. Vành bánh trước bị móp méo, kích thước (10x02) cm hướng từ trước ra sau, cách vết rách trên lốp 10cm.

Xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03: Thắng chân bên phải bị đẩy cong gập sát vào gác để chân, hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái, mặt trước chân thắng bị móp méo kích thước (5x3)cm, trên vùng móp mép có bám dính tạp chất màu đen.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 30/3/2025 xác định: Phạm Ngọc H có định lượng Ethanol (Cồn) là 222.86 mg/dl và âm tính với chất ma túy. Trần Mỹ P có định lượng Ethanol (Cồn) là 0 và âm tính với các chất ma túy.

Kết luận giám định tử thi số 515/KLGĐTT-PY ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐL kết luận nguyên nhân chết của ông Trần Mỹ P là do: Chấn thương sọ não.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 307/KLTTCT-PY ngày 29 tháng 4 năm 2025 kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Ngọc H là 12%.

Bản kết luận giám định số 813/KLKTHS ngày 14/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐL kết luận: Dấu vết trượt xước, rách cao su ở mặt lăn lốp trước của xe mô tô biển số 47M1-728.82 có chiều từ mặt lăn vào tâm trục bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước, cong vênh kim loại ở bàn chân phanh bên phải của xe mô tô biển số 47G1-122.03. Dấu vết va chạm ở xe mô tô mang biển số 47M1-728.82 tại vị trí này có chiều hướng từ trước ra sau.

Bản kết luận giám định số 562/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐL kết luận:

Tập tin video có tên “6462842796961”, được lưu trữ trong 01 đĩa DVD trên đĩa có các ký tự đọc được là “maxell 120min.VIDEO/4.7GB DATA DVD-R 1-16X SPEED RECORDABLE”: không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; chụp được 03 ảnh diễn biến, hành vi trong tập tin video; không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 47M1-728.82 và xe mô tô biển số 47G1-122.03. Tập tin video có tên “6457421398879”, được lưu trữ trong 01 đĩa DVD: không phát hiện dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; chụp được 06 ảnh diễn biến, hành vi trong tập tin video, thời gian từ 17 giờ 51 phút 10 giây đến 17 giờ 52 phút 30 giây (theo thời gian hiển thị trong tập tin video; không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 47M1-728.82 và xe mô tô biển số 47G1-122.03.

Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh ĐL kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 47G1-122.03 là 180.000 đồng và tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 47M1-728.82 là 4.330.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐL đã tạm giữ:

01 xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bị cáo Phạm Ngọc H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Phạm Ngọc H là chủ sở hữu.

01 xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của ông Trần Mỹ P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Trần Quang T là đại diện hợp pháp của bị hại.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Ngọc H đã tự nguyện bồi thường số tiền 60.000.000 đồng, được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với phần hư hỏng của xe mô tô 47G1-122.03 ông Trần Quang T đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKS-HS ngày 15/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Phạm Ngọc H, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đã truy tố. Bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thoả thuận về việc bồi thường.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐL trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 cho bị cáo Phạm Ngọc H và 01 xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 của ông Trần Mỹ P cho ông Trần Quang T đại diện hợp pháp của bị hại, là các chủ sở hữu.

Bị cáo Phạm Ngọc H không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Phạm Ngọc H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể như sau:

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 30 tháng 3 năm 2025, sau khi đã uống bia và có nồng độ cồn trong máu là 222,86 mg/dl, Phạm Ngọc H (có giấy phép lái xe hạng A1) vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 lưu thông trên Quốc lộ 26, theo hướng từ phường B đi xã EK. Khi đến Km 123+600 Quốc lộ 26, đoạn thuộc địa phận tổ dân phố S, xã K, tỉnh Đắk Lắk (khu vực ngã tư giao nhau với đường Võ Thị S và đường Nơ Trang L), do thiếu chú ý quan sát và không giảm tốc độ khi qua nơi đường giao nhau, H đã để xe mô tô do mình điều khiển va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 do ông Trần Mỹ P đang lưu thông. Hậu quả: Ông Trần Mỹ P tử vong trên đường đi cấp cứu; Phạm Ngọc H bị thương tích với tỷ lệ 12%; xe mô tô 47G1-122.03 hư hỏng, thiệt hại tài sản trị giá 180.000 đồng; xe mô tô 47M1-728.82 hư hỏng, thiệt hại tài sản trị giá 4.330.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn trùng khớp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác đã được thu thập.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 45/CT-VKS-HS ngày 15/9/2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phạm Ngọc H đã phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;.....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

.....

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định;”

Hội đồng xét xử nhận định, hành vi của bị cáo Phạm Ngọc H là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng của công dân, cụ thể là của bị hại Trần Mỹ P, đồng thời gây mất trật tự an toàn tại địa phương.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho người khác và bị pháp luật nghiêm trị. Mặc dù vậy, do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể, sau khi đã sử dụng rượu bia, có nồng độ cồn trong máu rất cao (222,86 mg/dl), vượt xa mức quy định, bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô tham gia giao thông. Khi đi đến khu vực ngã tư, là nơi đòi hỏi phải đặc biệt chú ý quan sát và giảm tốc độ, bị cáo đã không tuân thủ, dẫn đến va chạm với xe của ông Trần Mỹ P, gây ra hậu quả nghiêm trọng là làm ông Phong tử vong và bản thân bị cáo bị thương tích 12%.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm nghiêm trọng các quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và khoản 2 Điều 9, điểm a, e khoản 3 Điều 12 và Điều 22 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hậu quả đã gây ra. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời góp phần răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông của người dân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị can Phạm Ngọc H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại đó là điều khiển xe mô tô chuyển hướng sớm và thiếu chú ý quan sát. Do đó khi lượng hình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Về các biện pháp tư pháp:

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm, là phù hợp nên cần chấp nhận..

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐL trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 cho bị cáo Phạm Ngọc H và 01 xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 của ông Trần Mỹ P cho ông Trần Quang T đại diện hợp pháp của bị hại, là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Áp dụng điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt đi thi hành án.

[3] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 46, 48 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐL trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47M1-728.82 cho bị cáo Phạm Ngọc H và 01 xe mô tô biển kiểm soát 47G1-122.03 của ông Trần Mỹ P cho ông Trần Quang T đại diện hợp pháp của bị hại.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Ngọc H và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ