vanban.org

Bản án 17/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D pham tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS - ST
Ngày: 28 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Cường và ông Phạm Xuân Ninh.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Hiếu - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Tòa án án nhân dân huyện Q xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án Hình sự thụ lý số 19/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Tiến D, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1985. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Tiến L và bà Hoàng Thị L1. Vợ Võ Thị H, có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền sự: Không.

Tiền án: có 03 tiền án.

- Ngày 23/7/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm.

- Ngày 19/9/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Bị xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự.

- Ngày 18/12/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm, tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo chưa thi hành án phí hình sự phúc thẩm, chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự.

Nhân thân: Ngày 20/4/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2024, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 21/9/2024 cho đến nay. Hiện, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Cao N, sinh năm 1959, địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyên Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 12/9/2024, tổ công tác thuộc Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình trong quá trình tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đã phát hiện Nguyễn Tiến D (sinh năm 1985, trú tại thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM mang BKS: 73K3-8669 chạy trên đường liên xã thuộc địa phận thôn T, xã H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện ở trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Tiến D đang cầm 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hồng Hà, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong túi nilon đó có chứa 07 (bảy) túi nilon trong suốt nhỏ, trong đó có 04 (bốn) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 08 (tám) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 03 (ba) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 05 (năm) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, tổng cộng là 47 (bốn mươi bảy) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng. Nguyễn Tiến D khai nhận số viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng nói trên là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến, D mua về cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số viên nén trên và những tang vật liên quan.

Đến 16 giờ 05 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến D ở thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quá trình khám xét, phát hiện và thu giữ tại vị trí đầu giường ngủ trong phòng ngủ của Nguyễn Tiến D có 01 (một) chai nhựa, trên thân chai có 01 (một) lỗ tròn; 01 (một) bật lửa màu đỏ và 01 (một) chai nhựa có nắp đậy màu trắng, kiểm tra bên trong chai nhựa này thấy có chứa tổng cộng 30 (ba mươi) túi nilon trong suốt, trong đó có 21 (hai mươi mốt) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 05 (năm) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng; 08 (tám) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 08 (tám) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 01 (một) túi nilon bên trong có chứa 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, tổng cộng là 170 (một trăm bảy mươi) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng. Nguyễn Tiến D khai nhận số viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng nói trên là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến, D mua về cất giấu để sử dụng; chai nhựa và bật lửa màu đỏ là của D dùng để sử dụng ma túy tổng hợp dạng hồng phiến.

Ngày 19/9/2024, Phòng K Công an tỉnh Q đã có Kết luận giám định số 1034/KL-KTHS, kết luận:

+ Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định (tức 47 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ khi bắt quả tang) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 4,234g (bốn phẩy hai trăm ba mươi bốn gam).

+ Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định (tức 170 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ khi khám xét chỗ ở) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 15,335g (mười lăm phẩy ba trăm ba mươi lăm gam).

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Về thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu: Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ:

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hồng Hà, bên trong vỏ bao thuốc lá đó có chứa 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong túi nilon đó có chứa 07 (bảy) túi nilon trong suốt nhỏ hơn, trong đó có 04 (bốn) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 08 (tám) viên ma túy, loại Methamphetamine và 03 (ba) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 05 (năm) viên ma túy, loại Methamphetamine, tổng cộng là 47 (bốn mươi bảy) viên ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 4,234g (bốn phẩy hai trăm ba mươi bốn gam), sau giám định còn lại 4,027g (bốn phẩy không trăm hai mươi bảy gam).

- 01 (một) chai nhựa có nắp đậy màu trắng, bên trong chai nhựa này có chứa tổng cộng 30 (ba mươi) túi nilon trong suốt, trong đó có 21 (hai mươi mốt) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 05 (năm) viên ma túy, loại Methamphetamine; 08 (tám) túi nilon bên trong mỗi túi có chứa 08 (tám) viên ma túy, loại Methamphetamine và 01 (một) túi nilon bên trong có chứa 01 (một) viên ma túy, loại Methamphetamine, tổng cộng là 170 (một trăm bảy mươi) viên ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 15,335g (mười lăm phẩy ba trăm ba mươi lăm gam), sau giám định còn lại 14,93g (mười bốn phẩy chín mươi ba gam).

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, mang BKS: 73K3-8669, số máy: HA08E0017456, số khung: RLHHA08051Y017433, mang tên Võ Cao N, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

- 01 (một) chai nhựa tự chế, ở giữa có 01 (một) lỗ tròn.

- 01 (một) bật lửa màu đỏ.

Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g,o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 07 năm đến 08 năm tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối cải nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 12/9/2024 tại thôn T, xã H, huyện Q và thôn X, xã X, huyện Q,bị cáo Nguyễn Tiến D có 03 tiến án đã có hành vi tàng trữ 217 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng.

Ngày 19/9/2024, Phòng K Công an tỉnh Q đã có Kết luận giám định số 1034/KL-KTHS, kết luận:

+ Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định (tức 47 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ khi bắt quả tang) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 4,234g (bốn phẩy hai trăm ba mươi bốn gam).

+ Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định (tức 170 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ khi khám xét chỗ ở) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 15,335g (mười lăm phẩy ba trăm ba mươi lăm gam).

Tổng cộng 19,569g (mười chín phẩy năm trăm sáu mươi chín gam) chất ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tiến D phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực sự gây nguy hại cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, không làm chủ được bản thân trước cám dỗ của tệ nạn ma túy. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là mối hiểm họa lớn của toàn xã hội, làm suy kiệt tài sản gia đình, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội; việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, chiếm đoạt trái phép chất ma tuý bị nghiêm cấm tuyệt đối. Bị cáo có 03 tiền án: Ngày 23/7/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/9/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Bị xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/12/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm, tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Nhân thân ngày 20/4/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật, do đó, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt trong khung hình phạt đối với bị cáo. Từ những đánh giá trên, nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Tiến D ra ngoài xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo không nhằm mục đích sinh lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vật chứng:

- 01 (một) phong bì giấy dán kín, trên ghi nội dung “1034/KL-KTHS”, đã được niêm phong bằng chữ ký và họ tên đầy đủ của những người tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài phong bì dán băng dính trong suốt. Bên trong phong bì đựng: 4,027g (bốn phẩy không trăm hai mươi bảy gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”. 14,93g (mười bốn phẩy chín mươi ba gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”. Toàn bộ vỏ bao gói, là loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 (một) chai nhựa tự chế, ở giữa có 01 (một) lỗ tròn, 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) chai nhựa có nắp đậy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, mang BKS: 73K3-8669, số máy: HA08E0017456, số khung: RLHHA08051Y017433, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho chủ sở hữu ông Võ Cao N.

Quá trình điều tra, về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Tiến D khai đã mua tại khu vực cầu T thuộc địa phận xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình từ một người đàn ông không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành xác minh theo đặc điểm nhận dạng D cung cấp nhưng không có kết quả do vậy chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM mang BKS: 73K3-8669 là của ông Võ Cao N (sinh năm 1959, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) – bố vợ của bị cáo Nguyễn Tiến D, quá trình điều tra xác định việc Nguyễn Tiến D sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội ông N không biết, do đó không truy cứu trách nhiệm đối với ông N.

Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 298, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/9/2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì giấy dán kín, trên ghi nội dung “1034/KL-KTHS”, đã được niêm phong bằng chữ ký và họ tên đầy đủ của những người tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài phong bì dán băng dính trong suốt. Bên trong phong bì đựng: 4,027g (bốn phẩy không trăm hai mươi bảy gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”. 14,93g (mười bốn phẩy chín mươi ba gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”. Toàn bộ vỏ bao gói, 01 (một) chai nhựa tự chế, ở giữa có 01 (một) lỗ tròn, 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) chai nhựa có nắp đậy

- Trả lại cho ông Võ Cao N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, mang BKS: 73K3-8669, số máy: HA08E0017456, số khung: RLHHA08051Y017433, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

Vật chứng nêu trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án xử: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo bản án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ