vanban.org

Bản án 17/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 15/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phong V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vật chứng có trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/3/2025 lập tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện L được xử lý như sau: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong số 855 ngày 19/12/2024 củ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phong Vinh tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phong V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày: 15/4/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trước.

2. Ông Trần Thanh Khen.

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Huỳnh Thị Ngọc H - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai (Phiên toà trực tuyến gồm các điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ kết nối với điểm cầu thành phần gồm 01 điểm cầu tại Phân trại tạm giam khu vực huyện L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh V) vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phong V, sinh ngày 24/6/2003 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú/ thường trú: Số A, tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm hồ; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh C (đã chết) và bà Nguyễn Kim H1, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ; tiền án - tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ - tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay, được trích xuất dẫn giải đến phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

* Người làm chứng: Hồ Gia B, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Khóm F, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

* Ngoài ra, tại điểm cầu thành phần còn có sự có mặt của:

1. Ông Lê Tây B1 - Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

2. Ông Mai Thanh P - cấp bậc: Thiếu úy, công tác tại Phân trại tạm giam khu vực huyện L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh V.

3. Ông Hồ Đình V1 - cấp bậc: Hạ sĩ, công tác tại Phân trại tạm giam khu vực huyện L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh V.

4. Ông Phan Khánh D - cấp bậc: Hạ sĩ, công tác tại Phân trại tạm giam khu vực huyện L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phong V bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 6/2023. Để có ma túy sử dụng, vào khoảng 18 giờ ngày 14/12/2024, V điện thoại cho một người bạn tên Nhựt C1 (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi nơi mua ma tuý thì được N Cu hướng dẫn đến ngã ba cầu C thuộc phường T, thành phố V sẽ gặp một người nam thanh niên bán ma tuý.

Sau đó V đi bộ từ nhà tại ấp P, xã P, huyện L ra cầu Đ thuộc Phường H, thành phố V bắt xe honda khách đi đến ngã ba cầu C để mua ma túy. Tại đây, V gặp người nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy và người nam thanh niên đưa cho V 01 gói thuốc Jet bên trong có 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ chứa ma túy. V trả tiền và nhận lấy ma tuý rồi đón xe honda khách về nhà. Trên đường đi, V lấy bịch nylon có chứa ma túy cất vào trong túi và vứt bỏ vỏ gói thuốc Jet.

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/12/2024 có Hồ Gia B điều khiển xe môtô biển kiểm soát 64C1-234.33 đến khu vực nhà V để tìm bạn nhưng không gặp nên Bảo định ra về. Lúc này V nhờ B chở V đến cầu P có công việc, đồng thời V mang theo gói ma tuý đã mua vào ngày 14/12/2024 nhưng không nói cho B biết. Do không biết trên người V có ma túy nên B đồng ý chở V đi công việc. Đến khoảng 11 giờ 05 phút cùng ngày, B đang điều khiển xe chở V đi đến đoạn đường thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với Công an xã P yêu cầu dừng xe kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện thu giữ trên người V 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ theo lời trình bày của V bên trong chứa ma tuý nên lực lượng Công an lập biên bản bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của V, đồng thời thu giữ của V 01 điện thoại di động hiệu OPPO, 01 xe môtô nhãn hiệu Winner X màu đỏ đen biển kiểm soát 64C1-234.33, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe của Hồ Gia B.

Tại kết luận giám định số 885/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong bên trong phong bì gửi giám định là chất ma tuý, tên gọi là Methamphetamine có khối lượng 4,2366 gam.

Đối với Hồ Gia B được V nhờ chở đi công việc nhưng không biết trên người V có ma túy nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho B gồm 01 xe môtô nhãn hiệu Winner X màu đỏ đen biển kiểm soát 64C1-234.33, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe.

Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được đối tượng xử lý sau.

Vật chứng đang tạm giữ gồm: 01 gói niêm phong sau giám định và 01 điện thoại di động hiệu OPPO gắn 01 thẻ sim có số seri 89840509241467461322.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSLH ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố bị cáo Trần Phong V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và phát biểu quan điểm các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Trần Phong V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật; phân tích đánh giá tác hại của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhận định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Phong V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Phong V mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 855 ngày 19/12/2024; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO gắn 01 thẻ sim có số seri 89840509241467461322; buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Lời trình bày của bị cáo: Do nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên;

Lời nói sau cùng bị cáo: Đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, đề nghị Hội đồng xét xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời trình bày của bị cáo Trần Phong V tại phiên tòa phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án thể hiện qua: Lời khai của bị cáo, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trần Phong V là người nghiện ma tuý. Để có ma tuý sử dụng, vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 14/12/2024, V đi xe honda khách đến ngã ba cầu C thuộc địa phận phường T, thành phố V gặp người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng, nhận ma túy xong bị cáo đón xe honda khách mang ma túy về nhà cất giữ để sử dụng. Đến 10 giờ 30 ngày 15/12/2024, V nhờ Hồ G chở đến Cầu Phú Q có công việc, khi đi V mang theo gói ma túy mục đích để sử dụng. Trên đường B chở V đến đoạn đường thuộc ấp P, xã P, huyện L thì bị lực lượng Công an nghi ngờ nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra và đã phát hiện thu giữ gói ma túy trên người V theo kết luận giám định số 885/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong bên trong phong bì gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 4,2366 gam.

Dấu hiệu hành vi vừa nêu trên của bị cáo Trần Phong V đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Hành vi này không những gây mất trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác; bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn dấn thân vào con đường phạm tội để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà nhận tội, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Vật chứng đang tạm giữ:

- Đối với phong bì được niêm phong sau giám định và 01 thẻ sim điện thoại có số seri 89840509241467461322. Đây là vật phạm tội và phương tiện bị cáo liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO bị cáo khai dùng liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Phong V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Phong V 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giữ - tạm giam là ngày 15/12/2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vật chứng có trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/3/2025 lập tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện L được xử lý như sau:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong số 855 ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V bên trong chứa vật chứng là chất ma túy còn lại sau giám định và 01 (một) thẻ sim điện thoại có số seri 89840509241467461322.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Buộc bị cáo V nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ