vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Kim H.

Về hôn nhân: Bà Trương Thị Kim H được ly hôn với ông Hồ Văn P. Về con chung: Giao cháu Hồ Hoàng N, sinh ngày 05/01/2009 cho bà Trương Thị Kim H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông Hồ Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Kim H kiện Hồ Văn P"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 5 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bình.

2. Bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 133/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/4/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kim H, sinh năm 1986.

Nơi cư trú: Khu phố 13, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Nơi ở hiện nay: Khu phố 3, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Hồ Văn P, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: Khu phố 13, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Kim H trình bày:

Bà và ông Hồ Văn P tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau, gia đình không tổ chức cưới hỏi, về chung sống cùng nhau từ năm 2008. Sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại gia đình chồng ở phường P (trước là phường T), thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.

Quá trình chung sống, vợ chồng cũng bình thường. Tuy nhiên, đến năm 2021 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và nảy sinh nhiều xung đột, trong mọi vấn đề khiến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ đó cho đến nay vợ chồng bà không còn sống chung, mạnh ai nấy sống, không ai gặp ai, cũng không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại. Do thời gian mâu thuẫn kéo dài và không còn chung sống cùng nhau nên tình cảm vợ chồng không còn, bà đề nghị Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà và ông P có 01 con chung là Hồ Hoàng N, sinh ngày 05/01/2009. Ly hôn, bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con, vì từ khi bà và ông P không còn sống chung đến nay thì con do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà đi làm thuê thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/tháng và được bố mẹ phụ giúp việc chăm con nên đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 08/4/2025, bị đơn ông Hồ Văn P trình bày:

Ông và bà Trương Thị Kim H tự nguyện tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở khu phố 1, phường T (nay là phường P), thành phố P. Quá trình chung sống vợ chồng vẫn bình thường, tuy nhiên đến năm 2021 thì vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến không hòa hợp. Từ năm 2021 đến nay thì vợ chồng không còn sống chung, ông và bà H không gặp nhau cũng không có ý định hàn gắn cuộc sống hôn nhân. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông và bà H có 01 con chung là Hồ Hoàng N, sinh ngày 05/01/2009. Hiện nay, con đang ở với bà H, ly hôn ông đồng ý giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trương Thị Kim H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Hồ Văn P. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của BLTTDS. Bị đơn ở phường P, thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về tranh chấp hôn nhân: bà H và ông P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Văn Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46 ngày 03/4/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà H trình bày: Từ năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và nảy sinh nhiều xung đột, trong mọi vấn đề khiến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ đó cho đến nay bà và ông P không còn sống chung, không ai gặp ai, cũng không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại. ông P biết bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông P đồng ý ly hôn nhưng vắng mặt.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về con chung: Xét yêu cầu được nuôi con của bà H, thấy rằng: Từ khi bà và ông P không còn sống chung thì cháu N do bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu N có nguyện vọng sống với mẹ, ông P cũng đồng ý giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. bà H làm thuê thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/tháng và được bố mẹ phụ giúp việc chăm con nên đủ điều kiện để nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: bà H không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: bà H và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang

- Tháp Chàm là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Kim H.

1. Về hôn nhân: Bà Trương Thị Kim H được ly hôn với ông Hồ Văn P.

2. Về con chung: Giao cháu Hồ Hoàng N, sinh ngày 05/01/2009 cho bà Trương Thị Kim H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông Hồ Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Trương Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001054 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ