vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị H.

1. Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hạnh - Thương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 14/8/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Trầm.

2. Bà Nguyễn Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Nghị, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 5 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị H, sinh năm: 1992; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ thường trú: Thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định (nay là thôn L, xã A, tỉnh Gia Lai). (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1988; Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ thường trú: Thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định (nay là thôn L, xã A, tỉnh Gia Lai). (vắng mặt).

Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, tỉnh Bình Định (nay là xã A, tỉnh Gia Lai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn Th kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (nay là UBND xã An Hòa, tỉnh Gia Lai) vào ngày 23 tháng 4 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được 05 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh Th anh chơi cờ bạc, nợ nần nhiều, chị H cố gắng khuyên can nhưng anh Th không nghe mà ngày càng bị lún sâu vào con đường cờ bạc, chị H thấy cuộc sống khó khăn nên chị đã dẫn còn về nhà cha mẹ đẻ ở thôn Hội Thuận, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ (nay là thôn Hội Thuận, xã Phù Mỹ, tỉnh Gia Lai) sinh sống từ năm 2020 đến nay, kể từ đó hai người đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Nguyên đơn chị Huỳnh Thị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn Th.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con là tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/2015. Nếu Tòa án giải quyết được ly hôn thì nguyên đơn chị Huỳnh Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Văn Th cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Th: Bị đơn anh Nguyễn Văn Th có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định (nay là thôn L, xã A, tỉnh Gia Lai). Bị đơn anh Nguyễn Văn Th biết được Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ kiện ly hôn của vợ chồng, được Tòa án tiến hành cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng bị đơn anh Th không có văn bản ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tại phiên tòa bị đơn anh Th vắng mặt.

- Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm HĐXX nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán: Chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) từ khi thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng đúng; thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án đầy đủ, xác minh tình trạng hôn nhân, con chung, mở phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng đúng pháp luật. Ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đảm bảo thời hạn quy định, cấp phát các văn bản tố tụng đúng trình tự thủ tục luật định.

Hội đồng xét xử: Thành phần 01 Thẩm phán, 02 Hội thẩm đúng quy định tại Điều 63 BLTTDS, nguyên tắc xét xử độc lập, tuân thủ các quy định chung về phiên tòa. Thư ký: Phổ biến nội quy phiên tòa, báo cáo sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định tại Điều 51, 237 BLTTDS.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

- Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xem xét;

- Về chia tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự buộc chị Hạnh phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và người bị kiện cư trú tại thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định (nay là thôn L, xã A, tỉnh Gia Lai). Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Gia Lai.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn Th được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Th.

Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Văn Th kết hôn cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (nay là UBND xã An Hòa, tỉnh Gia Lai) vào ngày 23/4/2015 là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 31/2015 của UBND xã An Hòa, huyện An Lão cấp cho chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Văn Th. Nên hôn nhân giữa chị H và anh Th là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị Huỳnh Thị H cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được 05 năm thì mâu thuẫn xảy ra và không thể khắc phục được. Nguyên nhân chính là do anh Th ăn chơi cờ bạc, nợ nần nhiều; chị H và anh Th không chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án hợp lệ cho anh Nguyễn Văn Th, nhưng anh Th không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Th vắng mặt. Điều này cho thấy anh Nguyễn văn Th bỏ mặt hậu quả hôn nhân của vợ chồng.

Xét hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Văn Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế hôn nhân của hai vợ chồng. Do đó, chấp nhận cho chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Huỳnh Thị H khai giữa chị và anh Nguyễn Văn Th có 01 người con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/2015; hiện nay cháu T đang sống với chị H. Lời khai của chị H là phù hợp với bản sao giấy khai sinh số: 258/2015, quyển số 01/2015 ngày 01/12/2015 của Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện An Lão cấp cho Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/2015. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Tiến và nguyện vọng của cháu T mong muốn được ở với chị H.

Xét yêu cầu nuôi con của chị Huỳnh Thị H và nguyện vọng của cháu T là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi cháu T: Do chị Huỳnh Thị Hạnh không có yêu cầu, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Huỳnh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn Th không có văn bản nêu ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không có mặt tại Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Th vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Khi nào chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Văn Th tranh chấp và có yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị H phải nộp án phí 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ý kiến của Kiểm sát viên, kiểm sát việc xét xử tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị H.

1.1. Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/2015 cho chị Huỳnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Văn Th có quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp anh Th không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Th.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Văn Th có tranh chấp và yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0007265 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai). Chị H đã nộp đủ.

5. Giấy chứng nhận kết hôn số: 31/2015 ngày 23/4/2015 của UBND xã An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là UBND xã An Hòa, tỉnh Gia Lai) cấp cho chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Văn Th không còn hiệu lực pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ