- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V. (Giấy chứng nhận kết hôn số 128, quyển số 01/2013 ngày 10/12/2013 của UBND thị trấn LB, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày 14-5-2025 V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vũ và bà Đoàn Thị Kim Dung;
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hoài Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu T, sinh năm 1995; Địa chỉ: thôn NC, xã TT, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: thôn NC, xã TT, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở hiện nay: khóm TK, thị trấn LB, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Võ Thị Thu T trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại tòa án:
Về tình cảm: Chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 10/12/2013 tại UBND thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, hay xảy ra mâu thuẫn do anh Nguyễn Ngọc V không chăm lo làm ăn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục. Nay, chị Võ Thị Thu T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V.
Về con chung: Chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia K, sinh ngày 20/7/2013 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/7/2017. Khi ly hôn, chị Võ Thị Thu T muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Chị Võ Thị Thu T không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản trình bày ý kiến đề ngày 21/3/2025, bị đơn anh Nguyễn Ngọc V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc V không đồng ý ly hôn với chị Võ Thị Thu T.
Về con chung: Anh Nguyễn Ngọc V và chị Võ Thị Thu T có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia K, sinh ngày 20/7/2013 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/7/2017. Khi ly hôn, anh Nguyễn Ngọc V muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Võ Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc V.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia K, sinh ngày 20/7/2013 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Võ Thị Thu T muốn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Ngọc V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Võ Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Võ Thị Thu T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V, Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc V có nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở hiện nay tại khóm TK, thị trấn LB, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Ngọc V được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Ngọc V.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Về quan hệ hôn nhân:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2025 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 10/12/2013 tại UBND TT. Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Theo kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V tại UBND thị trấn LB ngày 04/4/2025 và tại UBND xã TT ngày 11/4/2025 thì giữa chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V thường xảy ra mâu thuẫn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Hiện, chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ các phiên hòa giải nhưng anh Nguyễn Ngọc V không tham gia. Qua đó, thể hiện anh Nguyễn Ngọc V không mong muốn đoàn tụ gia đình, bỏ mặc cuộc hôn nhân.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị Võ Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
3.2. Về con chung:
Chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia K, sinh ngày 20/7/2013 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/7/2017. Khi ly hôn, cả chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn về con chung, thấy rằng, chị Võ Thị Thu T có nghề nghiệp là buôn bán, thu nhập bình quân 9 triệu đồng/tháng. Anh Nguyễn Ngọc V không xác định có nghề nghiệp ổn định. Hai cháu Nguyễn Ngọc Gia K và cháu Nguyễn Ngọc Gia H đều có nguyện vọng được ở với chị T nếu bố mẹ ly hôn. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, chăm sóc phải xem xét đến quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Ngọc Gia K và Nguyễn Ngọc Gia H của chị Võ Thị Thu T là hợp tình, hợp lý đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị Võ Thị Thu T việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, nhưng chị T vẫn không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc V phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, người trực tiếp nuôi con là chị Võ Thị Thu T có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con và việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện. Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình, không buộc anh Nguyễn Ngọc V phải cấp dưỡng nuôi con.
Từ những nhận định trên, xét thấy cần giao các cháu Nguyễn Ngọc Gia K, sinh ngày 20/7/2013 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Võ Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Ngọc V không phải cấp dưỡng nuôi con.
3.3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Thu T và anh Nguyễn Ngọc V. (Giấy chứng nhận kết hôn số 128, quyển số 01/2013 ngày 10/12/2013 của UBND thị trấn LB, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị).
2. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Ngọc Gia K, sinh ngày 20/7/2013 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Võ Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Ngọc V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Ngọc V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh Nguyễn Ngọc V thực hiện quyền này.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Buộc chị Võ Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Võ Thị Thu T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/2023, số 0000308 ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Chị Võ Thị Thu T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Võ Thị Thu T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2025). Bị đơn anh Nguyễn Ngọc V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND H.Hướng Hóa; - Chi cục THADS H. Hướng Hóa; - UBND TT. LB; - Các đương sự; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Sơn |