vanban.org

Bản án 17/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HSST
Ngày 22-01-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai.

2. Bà Nguyễn Thị Lý.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 338/2023/HSST ngày 26/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02/01/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Quốc B1; Sinh năm 1986, tại Tp. H; Thường trú: Số A đường B, Phường C, quận D, Tp. E; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc L và bà Trần Thị Đ; Vợ Nguyễn Thị T, có 02 con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt giam từ ngày 22/9/2023 (có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Thanh L2 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn A2, xã B2, huyện C2, tỉnh D2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/09/2023, Nguyễn Ngọc Quốc B1 điều khiển xe máy hiệu Yamaha biển số 48B1- 232.89 trên đường đi làm về do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên chạy đến chân cầu A3 thuộc địa bàn phường, Quận C3, Thành phố E để mua ma túy đá sử dụng. Khi đến trước chân cầu Bến Phân thuộc địa bàn nêu trên, Nguyễn Ngọc Quốc B1 gặp một người đàn ông tên X (chưa rõ lai lịch) hỏi B1 lấy bao nhiêu? B1 có trả lời là 200.000 đồng rồi người đàn ông này đưa cho Nguyễn Ngọc Quốc B1 01 gói ny lon bên trong có chứa ma túy đá. Sau đó, Nguyễn Ngọc Quốc B1 cất giấu gói nylon chứa ma túy đá vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi chạy xe về nhà. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Ngọc Quốc B1 một mình điều khiển xe máy đi mang theo ma túy vừa mua, khi đến trước địa chỉ A4 B4, Phường C, Quận D thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận D kết hợp cùng Công an phường C, quận D kiểm tra phát hiện cùng vật chứng.

Vật chứng vụ án gồm:

- 01 (một) gói ni lông chứa tinh thể không màu, đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Quốc B1 và hình dấu Công an phường C, quận D. Căn cứ Bản kết luận giám định số 10552/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1092 g, loại Methamphetamine.

- 01 (một) xe máy biển số 48B1-232.89.

Tại Cơ quan điều tra, Công an quận D, Tp. E, Nguyễn Ngọc Quốc B1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-GV ngày 22/12/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận D, Tp. E đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đề nghị xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói ni lông chứa tinh thể không màu, đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Quốc B1 và hình dấu Công an phường C, quận D bên trong có chứa ma túy tổng hợp còn lại sau giám định;

-Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe máy biển số 48B1-232.89; số máy: 1DB1146631; số khung: RLCN1DB10DY146621.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, Tp. E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận D, Tp. E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện bị cáo đã thực hiện hành vi: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 22/9/2023, tại trước địa chỉ A4 B4, phường C, quận D bị can Nguyễn Ngọc Quốc B1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1092 g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc truy tố, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ma túy còn là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật rất nghiêm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã bất chấp, cố ý phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5, Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với người đàn ông tên X đã bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Quốc B1, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu xác định đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng:

. Đối với 01 (một) gói ni lông chứa tinh thể không màu, đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Quốc B1 và hình dấu Công an phường C, quận D bên trong có chứa ma túy tổng hợp còn lại sau giám định, là ma túy, vật Nhà nước cấm lưu hành và sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

. Đối với 01 (một) xe máy biển số 48B1-232.89; số máy: 1DB1146631; số khung: RLCN1DB10DY146621. Qua xác minh chiếc xe trên do ông Cao Thanh L2, địa chỉ; Thôn A2, xã B2, huyện C2, tỉnh D2 đứng tên chủ sở hữu. Ông Cao Thanh L2 khai mua chiếc xe trên vào năm 2016, đến năm 2018 do không có nhu cầu sử dụng nên ông L2 đã bán xe cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) trên địa bàn xã B2, huyện C2, tỉnh D2. Khi bán có viết giấy mua bán nhưng lâu ngày đã mất nên không nhớ thông tin, lai lịch người mua. Nguyễn Ngọc Quốc B1 khai nhận mua lại chiếc xe trên tại một cửa hàng mua bán xe cũ tại Y không nhớ địa chỉ, lúc mua có giấy tờ xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên, hiện B1 đã làm mất giấy tờ xe trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay không có ai đến liên hệ làm việc. Xét thấy, xe không có nguồn gốc rõ ràng bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quốc B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2023.

- Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

+Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói ni lông chứa tinh thể không màu, đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Quốc B1 và hình dấu Công an phường C, quận D bên trong có chứa ma túy tổng hợp còn lại sau giám định;

+Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe máy biển số 48B1-232.89; số máy: 1DB1146631; số khung: RLCN1DB10DY146621.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 237/PNK ngày 04/12/2023 của Công an quận D, Tp. E).

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ