vanban.org

Bản án 17/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 05/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh và hình phạt

Tuy n bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17 /2024/HSST
Ngày 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà ò Mai i ng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp và ông Hà Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Bà ò Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn a

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông ường Văn Dũng- Kiểm sát vi n

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐ ST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn T, t n gọi khác: Không; sinh năm 1989, tại huyện TC, tỉnh Sơn a; nơi cư trú: bản P, xã NL, huyện TC, tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn ẻ, sinh năm 1961 và bà Quàng Thị Inh, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là Bạc Thị Ch nh (đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Tại bản án số 97/2018/HSST ngày 23/5/2018 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2019); Tại bản án số 23/2020/HSST ngày 28/4/2020 bị Tòa án nhân thành phố Sơn a, tỉnh Sơn a xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2021); Tại bản án số 97/2022/HSST ngày 14/6/2022 bị Tòa án nhân thành phố Sơn a, tỉnh Sơn a xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2023); tiền sự: Tại quyết định số 0044214/QĐ-XPHC ngày 11/11/2015 bị Công an huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô, số đề, mức phạt tiền phạt là 350 000 đồng (chưa nộp tiền phạt); Tại quyết định số 0037203/QĐ-XPHC ngày 12/9/2016 bị Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn a xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt tiền phạt là 1 500 000 đồng (nộp tiền phạt ngày 16/9/2016); Tại quyết định số 30/QĐ-TA ngày 05/4/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn a, tỉnh Sơn a ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 22 (hai mươi hai) tháng, trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 23/5/2024 Quàng Văn T trốn khỏi Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn a cho đến ngày thực hiện hành vi phạm tội; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 31 tháng 8 năm 2024. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 31/8/2024, Tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn a làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu 9, thị trấn TC, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

V t chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu xanh b n trong có chứa bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Quàng Văn T khai là Heroine).

Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 01/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đã tiến hành bóc mở ni m phong, cân tịnh v t chứng và lấy m u giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,16 gam. Trích toàn bộ 0,16 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu T1 gửi giám định.

Kết lu n giám định số: 1775/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn a kết lu n: M u gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,16 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 31/8/2024, Quàng Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Phúc, xã NL, huyện TC, tỉnh Sơn a sang xã N m Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn a mục đ ch để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi Thắm đi đến khu vực bản Pàn, xã N m Ty, huyện Sông Mã, Thắm gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc thái (Thắm không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon màu xanh bên trong có Heroine với giá 100 000 đồng Sau khi mua được ma túy, Thắm cất giấu gói ma túy vào túi quần đ ng trước bên phải đang mặc, rồi đi bộ ra trung tâm xã N m Ty, huyện Sông Mã đón xe khách ra thị trấn TC, huyện TC để đi tìm việc làm thuê Khi đi đến khu vực tiểu khu 9, thị trấn TC, huyện TC thì Thắm xuống và đi bộ đi tìm việc làm thuê, Thắm đi được khoảng 100m thuộc khu vực tiểu khu 9, thị trấn TC, huyện TC thì bị tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ c ng v t chứng

Tại Cáo trạng số: 186/CT- VKSTC, ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phi n toà, bị cáo Quàng Văn T đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nh n bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội

Trong phần tranh lu n, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phi n toà trình bày lời lu n tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t Hình sự:

Tuy n bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

ử phạt bị Quàng Văn T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo

Về v t chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong v t chứng ban đầu.

Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

Tại phi n tòa, bị cáo Quàng Văn T thừa nh n hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh lu n gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn a, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng Quá trình điều tra và tại phi n tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Ngày 31/8/2024, bị cáo Quàng Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) trong người với mục đ ch để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tiểu khu 9, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn a

Tại phi n tòa bị cáo giữ nguy n lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung th m nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra ph hợp với kết quả điều tra, ph hợp với: Bi n bản bắt người phạm tội quả tang l p ngày 31/8/2024; Bi n bản ni m phong v t chứng; Bi n bản mở ni m phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và ni m phong lại; Bi n bản mở ni m phong và giao nh n đối tượng giám định; Kết lu n giám định số 1775/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn a; lời khai của người chứng kiến

Bị cáo Quàng Văn T: Tại bản án số 97/2018/HSST ngày 23/5/2018 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2019); Tại bản án số 23/2020/HSST ngày 28/4/2020 bị Tòa án nhân thành phố Sơn a, tỉnh Sơn a xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2021); Tại bản án số 97/2022/HSST ngày 14/6/2022 bị Tòa án nhân thành phố Sơn a, tỉnh Sơn a xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2023). Đến ngày 31/8/2024 bị cáo Quàng Văn T tiếp tục có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có t n khoa học là Diacetylmorphine) trong người với mục đ ch để sử dụng. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án t ch mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Hành vi nêu trên của bị cáo Quàng Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ lu t Hình sự

[4 Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghi m trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghi m khắc nh m răn đe giáo dục đối với bị cáo, tr n cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phi n tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án chưa được xóa án tích, 03 tiền sự chưa được xóa.

[5 Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do v y Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6 Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Quàng Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết họ t n, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Pàn, xã N m Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn a vào ngày 31/8/2024 Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh Do đó, buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.

[7 V t chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong v t chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo d ng vào việc phạm tội, v t không có giá trị cần tịch thu ti u hủy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự

[8 Về án ph : Bị cáo Quàng Văn T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

Vì các lẽ tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

1 Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuy n bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2 Về v t chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì thư ni m phong v t chứng ban đầu (mô tả chi tiết theo biên bản giao nh n v t chứng giữa Cơ quan điều tra Công an và cơ quan Thi hành án dân sự).

3 Về án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

4 Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuy n án sơ thẩm./.

Cỡ chữ