vanban.org

Bản án 17/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 07/9/2023. Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày: 24 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Đình Thiện

+ Bà Bùi Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Lâm - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST - HS ngày 08/01/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1994, tại: NT; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 1, Phường Bảo An, Thành phố PR-TC, Tỉnh NT, nơi cư trú: Hẻm 63 B NCT, Phường 8, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1968 và bà: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1970; vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1997; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 07/9/2023, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP ĐL, tỉnh LĐ.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số 136 Ng Q, Phường 6, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Bị cáo có mặt, người chứng kiến vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D là người sử dụng ma túy đá từ tháng 05/2023. Vào khoảng đầu tháng 9/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, D có đặt mua ma túy của một người tự nhận đang ở Thành phố Hồ Chí Minh, D không nhớ tên tài khoản facebook. Người này đồng ý bán ma túy cho D số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và gửi hàng qua một nhà xe ở đường Phan Bội Châu, thành phố ĐL. D nhờ một người bạn tên Lượng cùng làm thợ sơn nước chuyển tiền qua ví điện tử Momo với số tiền 2.000.000 đồng cho đối tượng bán ma túy. Sau đó D đến nhà xe ở đường Phan Bội Châu nhận lấy số ma túy đá mà D đã đặt mua. Sau khi nhận được ma túy, D mang về nhà trọ cất giấu và sử dụng một mình tại nhà trọ của D tại Hẻm 63B NCT, Phường 8, thành phố ĐL, LĐ 05 lần. Ngày 07/9/2023, D rủ bạn tên Long ở đường Nguyễn An Ninh cùng sử dụng ma túy nhưng D không biết nhà Long nên hẹn đón Long ở quán nét Lion, 114 Ng Q, Phường 6, ĐL. Khi D đứng ở trước cửa quán Internet Lion chờ Long thì Công an Phường 6, thành phố ĐL tiến hành kiểm tra hành chính D. Quá trình kiểm tra, Công an phát hiện tại vị trí gác baga ở giữa xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu vàng đen Biển kiểm soát 85V5-4226 của D đang sử dụng có để 01 gói thuốc lá hiệu Seven Diamonds, Công an kiểm tra gói thuốc lá trên thì phát hiện bên trong gói thuốc lá có 09 điếu thuốc lá hiệu Seven Diamonds và 01 túi ni lông dạng túi zip có đường chỉ màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá. Tại chỗ, D khai nhận với Công an bản thân có sử dụng ma túy đá, túi ni lông có chứa tinh thể màu trắng mà công an phát hiện như trên là ma túy đá của D mua về cất giấu để sử dụng. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại chỗ đối với Nguyễn Văn D, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang theo quy định. (bút lục: 23-54)

Tang vật, tài liệu được thu giữ:

- 01 gói thuốc lá hiệu Seven Diamonds, bên trong gói thuốc lá có chứa đựng 09 điếu thuốc lá hiệu 7 Diamonds và 01 túi ni lông dạng túi zip có đường chỉ màu đỏ, bên trong túi ni lông có chứa tinh thể màu trắng.

- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Samsung Galaxy A03s, màu xanh trắng bị vỡ 04 góc màn hành, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirus, màu vàng đen, biển số: 85V5-4226 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Tại bản Kết luận số 1041/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng PC09 - Công an tỉnh LĐ kết luận:

- Mẫu tinh thể đựng trong gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4400g (không phẩy bốn bốn không không gam), loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSĐL-LĐ ngày 04/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận, vào khoảng 02 giờ sáng ngày 07/9/2023, tại trước tiệm Net Lion số 114 Ng Q, Phường 6, Thành phố ĐL, D bị Công an kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ 01 gói ma túy D đang cất giữ trong bao thuốc lá Seven của D để trên gacbaga chiếc xe mô to do D đang điều khiển như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn D từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã qua giám định; tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A 03s, màu xanh trắng của bị cáo D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D: Đầu tháng 9 năm 2023, D liên hệ với một đối tượng trên mạng xã hội Facebook mua 2.000.000đ tiền ma túy đá để sử dụng dần. Số ma túy trên D đã sử dụng được khoảng 5 lần. Đến 02 giờ sáng ngày 07/9/2023, D điều khiển xe mô tô biển số 85V5-4226 đem theo số ma túy còn lại đến đón đối tượng tên Long tại trước tiệm net Lion số 114 Ng Q, Phường 6, thành phố ĐL để rủ Long sử dụng ma túy thì Công an kiểm tra hành chính phát hiện tại vị trí gác baga ở giữa xe mô tô D đang sử dụng có để 01 gói thuốc lá hiệu Seven Diamonds, kiểm tra bên trong gói thuốc lá gói thuốc lá trên thì phát hiện bên trong có 09 điếu thuốc lá hiệu Seven Diamonds và 01 túi ni lông dạng túi zip có đường chỉ màu đỏ, bên trong có chứa chất ma túy. Nguyễn Văn D khai nhận nguồn gốc gói ma túy bị Công an phát hiện bắt giữ là của D mua cất giữ để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 1041/KL-KTHS ngày 11/9/2023, Phòng PC09 - Công an tỉnh LĐ xác định: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,4400g (không bốn bốn không không gam), loại Methaphetamine.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn D là người đã trưởng thành; có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có ma túy sử dụng bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Nguyễn Văn D không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Văn D phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 28/CT-VKSĐL-LĐ ngày 04/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

Trong vụ án, có đối tượng trên mạng xã hội Facebook bán ma túy cho D nhưng D không biết tên, nhân thân, lai lịch đối tượng này, ngoài lời khai của D không còn căn cứ nào khác để xác minh nên không đủ căn cứ để xử lý.

Ngoài ra, còn có đối tượng Lượng là người cùng làm sơn nước với D được D nhờ chuyển khoản số tiền 2.000.000đ cho đối tượng bán ma túy thì D chỉ nói với Lượng là chuyển khoản cho bạn mà không nói chuyển khoản để mua ma túy. D cũng không biết được tên họ đầy đủ, nhân thân, lai lịch của Lượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Long, là người được D rủ đi cùng sử dụng ma túy nhưng D không biết được tên họ đầy đủ, nhân thân, lai lịch của Long. Ngoài lời khai của D không còn căn cứ nào khác để xác minh nên không đủ căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 gói thuốc lá hiệu Seven Diamonds, bên trong gói thuốc lá có chứa đựng 09 điếu thuốc lá hiệu 7 Diamonds và 01 túi ni lông dạng túi zip có đường chỉ màu đỏ, bên trong chứa chất ma túy, là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Samsung Galaxy A03s, là công cụ bị cáo D liên lạc mua ma túy nên tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 07/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:

- 02 (hai) phong bì niêm phong số 1041/2023-PC09 đựng bao gói vật chứng và hoàn mẫu sau giám định, có chữ ký, họ tên của Võ Như Thuận, Ngô Văn Nhân, Đặng Trần Thảo Nguyên và đóng dấu hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ.

2.2. Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A03s, màu xanh trắng (không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 15/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (M lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. /. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh LĐ (02);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh LĐ;

(đã ký)

- VKSND tp. ĐL;

- Công an tp. ĐL;

Nguyễn Thị Huyền

- Nhà tạm giữ Công an tp. ĐL;

- Chi cục THADS tp. ĐL;

- Bị cáo;

- Lưu: bộ phận lưu trữ; hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ